|
Trang Gia Ðình
MS Phan Thanh Bình
phụ trách
Nhớ đến “cái buổi ban đầu lưu luyến ấy.” Cái “sức quyến-rũ” nơi người ấy sai nó bắt ta nghĩ đến hoài. Ta nghĩ đến trong lo-lắng “trăm năm biết có duyên gì hay không” (Kiều). “Nghĩ đến nhau” làm ta nẩy ra bao sáng-kiến dùng làm biểu-tượng để bắt ta “nghĩ đến nhau.”
“Nàng mặc áo vàng, ta về yêu hoa cúc.” Lấy hoa cúc làm biểu tượng cho nàng. Thấy hoa-cúc là phải nghĩ đến nàng. Còn nghĩ đến chàng thì hơi khó tìm biểu-tượng, thôi đành “ra ngẩn vào ngơ” vậy.
“Nghĩ đến nhau” làm ta nẩy ra bao sáng-kiến để “khơi-mào giao thông”. Cứ như tình cờ rớt cái khăn tay để chàng có thể nhặt lên trao lại; mắt chớp lia, cất tiếng oanh-vàng lí-nhí cảm ơn. Cứ vội-vã như có chuyện gì phải đi gấp, làm gấp; vô-tình “đụng” phải nàng để có cớ nói câu xin-lỗi, rồi thong-thả chuyện-trò.
“Nghĩ đến nhau” làm ta nẩy ra nhiều sáng-kiến để bắt cho được “nhịp cầu thông-cảm” tỏ tình.
Khi hai trái tim bắt đầu rung cùng một nhịp điệu thì cả khối óc, dường như chỉ còn phân-khu “nghĩ đến nhau” là hoạt động đều-đặn không biết mệt, chỉ muốn nghĩ, chẳng muốn nghỉ. Thời điểm này “nghĩ đến nhau” thêm tưởng-tượng, thêm mơ-ước, giữ “bí- mật,” chỉ mình mình biết, chỉ mình mình hay.
“Nghĩ đến nhau” làm ta nẩy ra nhiều phương-cách thực-tế để tạo nên “thân mật” giữa hai chúng mình. Phương cách thực tế khó có công thức. Nó thiên hình vạn trạng tùy thuộc vào hoàn-cảnh, khả-năng, tánh-tình, xu hướng và cả tri thức nữa.
Trong tình “thân mật” chàng và nàng “nghĩ đến nhau” để làm vừa lòng nhau hầu có thể đạt đến thành-quả “chinh phục” trong tình-trường. Mỗi người đều hoan hỉ “chết trong lòng một ít” để vừa lòng đối-phương.
Kết thúc thành-quả “chinh-phục” bằng đám cưới. Lìa cha-mẹ, anh em, họ hàng, quyến thuộc, bạn bè; bỏ công việc, chẳng màng đến thế sự, dìu nhau vào tuần “trăng mật.” Thời điểm này “nghĩ đến nhau” và cũng “nghĩ đến mìmh.” Có khi “nghĩ đến nhau” thì ít mà “nghĩ đến mình” thì nhiều. “Nghĩ đến nhau” để xác chứng “mơ-tưởng” trước đây.” Nghĩ đến mình” để chiêm-nghiệm thành quả.
Sau tuần “trăng mật” trở về với thực tế, thực tại “một ngày như mọi ngày” trong cuộc sống, với bao vấn đề, bao nan đề, bao đòi hỏi, bao thách thức, bao dự tính v.v. và với bao nhiêu điều phải nghĩ nên không còn đủ thì giờ “nghĩ đến nhau.” Nếu có “nghĩ đến nhau” lại nghĩ đến bổn phận và trách nhiệm của nhau.
Nếu có “nghĩ đến nhau.” Tôi nhớ bài hát nào đó, người vợ chiến binh nghĩ đến chồng: “Bây giờ anh ở đâu?” và sau đó là một lô chiến điạ lừng danh được nhắc nhở. Tại xứ này, nhiều bà vợ cũng nghĩ đến chồng: “bây giờ anh ở đâu?” Với hàng lô địa danh anh có thể “chạy rông” cho thỏa dục-vọng. Bây giờ em ở đâu? Với hàng lô tên tiệm quần áo, nữ trang, là những nơi em mạnh tay “chà” thẻ nhựa.
Nếu còn “nghĩ đến nhau” không phải để nối “vòng tay lớn” mà để cho vào “vòng cương tỏa” - kiểm soát nhau. “Nghĩ đến nhau” như vậy là: Vợ - “rợ buộc chân”; chồng - “gông đeo cổ.” “Nghĩ đến nhau” như vậy chỉ làm khổ cho nhau chớ không thể sống cho nhau.
Muốn “sống cho nhau” thì không chỉ “nghĩ đến nhau,” mà còn phải “nghĩ cho nhau” mà vẫn “sống với nhau” được. Nhưng chúng ta không thể “sống cho nhau” mà không “nghĩ cho nhau.”
Nhiều bà mạnh miệng nói thẳng với chồng:
-Không có ông hả, tôi vẫn sống phây-phây. Gương trước mặt đấy, bà X không chồng đấy, vẫn sống ngon lành như ai. Thấy mà bắt ham.
Lắm ông bạo phổi nói thẳng với vợ:
-Ngày nào không có bả bên tôi nữa hả, kể như ngày đó tôi được phóng-thích. Báu gì cái thứ cai tù.
Ấy giận lên thì mạnh miệng bạo phổi. Lỡ thời lâm vào tình-trạng thui thủi một mình mới nhận ra “thiếu nơi nương dựa.”
“Sống với nhau” lâu ngày chày tháng dễ “chán ngán.” Nhưng “sống cho nhau” lâu ngày chày tháng thêm “đậm đà.”
Vợ chồng phải “sống với nhau” và “sống cho nhau.” “Nghĩ cho nhau” để “sống cho nhau” là nghĩ đến nhu cầu của nhau.
Vợ chồng - Anh cần em. Em là lẽ sống của anh. Em là nguồn đáp ứng nhu cầu hợp tình, hợp lý của anh. Em cần anh, anh là nguồn đáp ứng nhu cầu cầu hợp tình , hợp lý của em.
Vợ chồng đều có nhu cầu chung và có cả nhu cầu riêng. Cái nhu cầu riêng này theo bản-chất nam nữ, sức khỏe, giáo dục, xu hướng, sở thích và môi trường thích ứng. Vì cớ đó, nhiều vợ chồng “tri kỷ” bởi có sự “hiểu biết nhau.” Vì cớ đó, nhiều vợ chồng, bởi có sự “biết nhau quá” nên dễ dàng “hành hạ nhau.” Chúng ta cứ nghe vợ chồng đàm thoại là cũng biết sơ tình cảnh ra sao.
Nhứt định là tri kỷ
-Em hiểu anh mà, anh biết không?
-Anh hiểu em mà, em yên tâm đi.
Nhứt định là…
-Tôi biết bà qúa mà, đừng hòng lấy vải thưa che mắt thánh.
-Bịp con nào, chớ hòng bịp tôi. Con người ông hả? Tôi biết từ trong ra ngoài.
“Biết nhau quá” có phần dễ; “hiểu nhau hơn” nhất định không dễ, nhưng chắc chắc là không khó.
“Nghĩ cho nhau” mới mong “hiểu nhau hơn;” “hiểu nhau hơn” thì thấy rõ “nhu cầu của nhau” thì tìm phương cách “đáp ứng cho nhau;” “đáp ứng cho nhau” chỉ một mục đích “vì nhau mà sống” hoặc “sống cho nhau.”
Tôi sẽ trình bày cùng quý vị:
Hiểu người phối ngẫu
Nhu cầu của người chồng Nhu cầu của người vợ
Phương cách đáp ứng
Của cho không bằng cách cho
Nguồn sống của mình
Nguồn sống cho nhau
Tôi viết với lòng ước-mong mọi người trong gia đình sống với nhau và sống cho nhau.
|