|
ÐỜI
ÐỜI TRONG CỔ NGỮ DO THÁI
Trong nỗ lực giúp tín-hữu Cơ-đốc biết được nguyên nghĩa của một số từ bằng tiếng Hy-lạp (Greek) hoặc
Hy-bá-lai (Hebrew) dùng trong Kinh-thánh, tôi chọn từ "đời đời" trong bài nghiên cứu nầy, vì tôi nhận thấy vài chỗ trong
các bản dảch Kinh-thánh sang Việt-ngữ không dùng từ nầy cách đồng nhất hoặc chínhxác. Tôi có cảm tưởng là dảch giả vô tình hay cố ý diặn giải thay vì dảch từ nầy trực tiếp từ nguyên văn.!iâm cần lưu ý người đọc là
Thánh-kinh Cựu-ước được viết hoàn toàn bằng tiếng Hy-bá-lai, tức là tiếng
Do-thái cổ, còn Thánh-kinh Tân-ước lại do những người
Do-thái viết bằng tiếng Hy-lạp phổ thông gọi là Koine Greek. Vì vậy, nếu có thâ biết được
cách người Do-tháixử dụng tiếng Hy-lạp phổ thông trong thời đó và trong văn hóa của họ thì tôi tin rằng chúng ta sẽ
khám phá được tính chất phong phú của đoạn kinh-văn mình đọc.Ngoài ra, văn phạm của tiếng Hy-lạp và
Hy-bá-lai cũng góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu lời Chúa. Phần trích câu hay đoạn
Kinh-thánh trong nguyên văn bằng tiếng Hy-lạp hay Hy-bá-lai chỉ nhằm mục-đích cung cấp tài liệu cho ai muốn nghiên cứu trong
các thứ tiếng đó mà thôi.Tuy tôi đã cố gắng sao cho bài nghiên cứu của tôi được hoàn mỹ, tuy vậy không sao
tránh khỏi những lỗi chính tả hay cú pháp còn vụng về của tôi. Xin người đọc góp ý kiến
đểâ tôi thấy được và sửa chữa lại trong bài nầy và trong những bài kế tiếp.Xin nhớ đến nhau trong khi cầu nguyện. Cầu
xin lời Chúa tác động mạnh trong tâm hồn của mỗi chúng ta.
ÐƠĩI ÐƠĩI TRONG CỔ NGỮ DO THÁI
Những từ "đời đời, đời đời vô cùng, vĩnh hằng, vĩnh phúc, vĩnh viặn, bất tận, trường cửu, vĩnh cửu, vĩnh sinh, vô tận, bất diệt, mãi mãi..." trong tiếng Việt khi mới
xem qua thì giống như những từ đồng nghĩa để nói lên tính
cách thật lâu dài của một sự kiện, và đã được dùng nhiều chỗ trong vài bản
Kinh-thánh bằng Việt ngữ của chúng ta.Tuy nhiên, mỗi từ trên đây lại có nghĩa riêng của nó khi
diển tả một vài khía cạnh khác nhau của sự lâu dài. Chúng ta đối chiếu hai từ "vĩnh phúc" và "bất diệt" được dùng
để dịch từ "eternal" hay là "everlasting" trong Giăng 3:16, thì sẽ thấy rằng "vĩnh phúc" nói đến phước hạnh còn kéo dài mãi mãi, trong khi "bất diệt" lại nói đến một việc không
thểâ bị loại trừ hay bị tiêu diệt được theo thời gian . Mặc dầu "eternal, hoặc everlasting" có hàm chứa ý nghĩa kia khi chúng ta suy gẫm trên hai khía cạnh hay hai lãnh vực
khác nhau, nhưng trong tiếng Hy-lạp là nguyên ngữ dùng đểâ viết
các sách trong Tân-ước, chữ "đời đời" (eternal, everlasting) tự nó chỉ nêu lên tính
cách lâu dài mà thôi, chứ không đá động gì đến phước hạnh hay sự không tiêu diệt được. Ví dụ:"Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của
Ðức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Ðức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta." (Rôma
6:23)
Sự "sống đời đời" (zwh; aijwvnio", Zoe aionios) chỉ có nghĩa là sự sống lâu dài. Nhưng sự sống nầy là phước hạnh khi ở "trong
Ðức Chúa Jêsus Christ" (ejn Cristw'/ !Ihsou') mà thôi, nhờ đã được nối liền với Ngài, là nguồn của sự sống. Còn "những
kẻ chẳng hề nhận biết Ðức Chúa Trời... Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời,
xa cách mặt Chúa và sự vinh hiểân của quyền phép Ngài..." (II Têsalônica 1: 8-9). Câu nầy được viết bằng tiếng Hy-lạp như vầy:(oi{tine" divkhn tivsousin o[leqron aijwvnion ajpo; proswvpou tou'kurivou kai; ajpo; th'"
dováh" th'"ijscuvo" aujtou')
Tỉnh từ aijwvnion (đọc là aionion = đời đời, eternal, everlasting) phụ nghĩa cho danh từ o[leqron (= hư mất, destruction). Nếu
dịch tỉnh từ aionion thành "vĩnh phúc" ở chỗ nầy thì sự "hư mất" là phước hạnh lâu dài thay vì một đại họa cho
kẻ chẳng tin.Trong bản Việt ngữ của bộ Kinh-thánh ấn hành lúc trước, tỉnh từ aijwvnio"/, aijwvnion đều được
dịch là "đời đời" như nhau. Nếu chọn một từ đồng nghĩa với "đời đời" đặng
dịch tiếng tỉnh từ Hy-lạp kia, thì cũng nên có sự thống nhất trong sự chọn lựa. Ví dụ:"Vì
Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban con một của Ngài, hầu cho
hể ai tin con ấy, không bị hư mất, mà được sự sống đời đời." (Giăng 3:16)(Ou{tw" ga;r hjgavphsen oJ qeo;" to;n kovsmon, w{ste to;n uiJo;n to;n
monogenh' e[dwken, i{na pa'" oJ pisteuvwn eij" aujto;n mh; ajpovlhtai ajll! e[ch/ zwh;n aijwvnion)
Nếu dịch e[ch/ zwh;n aijwvnion là được sự sống bất diệt ở chỗ nầy thì aijwvnion ở một chỗ
khác cũng phải được dảch là bất diệt. Ví dụ trong câu sau
đây:"Ðức Chúa Jêsus, hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi." (Hêbơrơ 13:8)(!Ihsou'" Cristo;" ejcqe;" kai;shvmeron oJ aujtov" kai; eij" tou;"aijw'na")
Thay thế chữ "đời đời" bằng chữ "bất diệt", câu nầy phải được đọc là:
"Ðức Chúa Jêsus, hôm qua, ngày nay, và cho đến bất diệt không hề thay đổi."Cũng một lẽ ấy, khi nhóm chữ "sự sống đời đời" trong Giăng 3:16 được dảch là "sự sống vĩnh phúc" thì nhóm chữ "cho đến đời đời" trong Hêbơrơ 13:8 phải được đọc là "cho đến vĩnh phúc." (!!!)
Nếu vừa dịch vừa giải nghĩa thì khó đạt được tính cách vô tư (impartial), vì vậy mà một bản chú giải đi kèm theo bản
dịch, chắc có lợi nhiều, tuy đôi lúc những nhà giải kinh không hoàn toàn cùng chung quan
điâm. Chữ "đời đời" do chữ aijwvn có nghĩa nguyên thủy là một khoảng thời gian sống (a period of
eáistence), tức là:- một đời người (one's lifetime, life)
- một thế hệ ( a generation)
- một thời kỳ (an age, a period)
- một thời gian dài (a long space of time)
- một khoảng thời gian nhất định (a definite space of time)
- một thời đại (an epoch,)
- một kỹ nguyên (an era)Tự điển Việt Nam do Ban Văn Học Hội Khai Trí Tiến
Ðức xuất bản năm 1931 định nghĩa chữ đời đời như sau:
Ðời đời: Hết đời nầy sang đời khác: Ðời đời có người làm quan.Vào thời Tân-ước, chữ aijwvn thường được dùng ở số nhiều (eij" tou;" aijw'na" = cho đến đời đời) đâ nói đến tính
cách vượt thời gian, nhiều đời không đếm hết. Chữ "nhiều không đếm hết, hay là vô số" trong ngôn ngữ Hy-lạp là mười ngàn, hay là một muôn (hj muriav" = 10,000) cùng
cách nói như người Trung-hoa và người Việt. Như thế thì "cho đến đời đời" tức là "cho đến muôn đời hay là nhiều đời không đếm
hết"."Ðời đời" là tiếng kép có hình trạng số nhiều của một từ. Người Trung-hoa ghép hai chữ giống nhau đâ làm thành số nhiều hoặc
đểâ nhấn mạnh, để gia giảm cường độ cho một hành động, hoặc sự thay đổi chút ít trạng
thái của một vật, một điều nào đó. Tiếng Hán nói "tập tập phong" nghĩa là "gió ào ào", tiếng Việt cũng nói theo
cách đó, chẳng hạn như "luôn luôn, mãi mãi, chút chút, nho nhỏ, mằn mặn, ngon ngót, vừa vừa...".
Ðức Chúa Jêsus và người Do-thái đương thời với Ngài cũng có
cách nói tương tợ khi Ngài phán: "Quả thật (= amen), quả thật (= amen), ta nói cùng
các ngươi..."Vậy, "đời đời" có nghĩa là trải suốt nhiều đời, trải từ đời nọ sang đời kia không dứt.
Ðó là ý nghĩa của chữ aijwvn của tiếng Hy lạp mà những người
Do-thái chép lời Chúa đã dùng đểâ nói lên tính cách lâu dài của một việc so với thời gian. Nhưng chính những người
Do-thái như họ quan niệm như thế nào về thời gian khi họ nói đến aijwvn "đời
đời"? Người Do-thái dùng chữ rdoš (Dor) khi nào muốn nói đến một thế-hệ (generation) hay khoảng đời của một người. Ví dụ:rdošw: rdo¤šB] (Be Dor Va Dor)nghĩa là từ "thế hệ này đến thế hệ kia", hay là "từ đời nầy qua đời kia."
Nhưng họ có một tiếng khác nữa để nói đến khoảng thời gian vô hạn
địûnh từ thời hiện tại trở lùi về quá khứ hay là từ thời hiện tại tiến đến tương lai, đó là chữ !lÉế/[ (Ôlam).
Tác giả bài Thi-thiên 90 dùng cả hai từ Dor (đời) và Ôlam (thời gian vô hạn
định) trong hai câu đầu:.rdošw: rdo¤šB] WnšL;% t;yyIỞh; hT;a'£ @/[ắm; yn:ỏdoa'~ll«0/jắT]šw" WdL;%yU !yrI¥hÉù { !r<fẳ¦šB].la«0 hTÉếa' !l;%/[ÛAd[' !lÉế/[šmešW" lb«=tešw¼ $r<aẳ¢"Lạy Chúa, từ đời nầy qua đời kia( rdošw: rdo¤šB] = in generation and generation), Chúa là nơi ở của chúng tôi. Trước khi núi non chưa sanh ra, đất và thế gian chưa dựng nên, Từ trước vô cùng cho đến đời đời( !l;%/[ÛAd[' !lÉế/[šmešW = from everlasting to everlasting), Chúa là !ức Chúa Trời." (Thi-thiên 90:1-2)Những thành ngữ (Idioms) thông dụng trong tiếng
Do-thái đâ chỉ cho đời đời là!l;%/[ÛAd[' = cho đến đời đời, forever;!lÉế/[l] = cho đến đời đời, forever;d[,w; !lÉế/[l] = đời đời, forever and ever.Người dân
Do-thái thờixưa quan niệm rằng một hành động tượng trưng bởi một động từ (verb) chỉ thuộc về một trong hai diện (aspects) mà thôi, hoặc thuộc về diện hoàn tất (perfect) khi nào hành động đó đã thành tựu, hoặc thuộc về diện chưa hoàn tất (imperfect) khi hành động đó hãy còn đang
diển tiến. Hiện tại không gì khác hơn là ranh giới giữa quá khứ (hoàn tất) và tương lai (chưa hoàn tất). Khi một động từ được dùng ở diện chưa hoàn tất và có thêm chữ Ôlam đi kèm theo, động từ đó muốn nói đến một việc kéo dài vô tận. Bởi vậy, khi
Kinh-thánhxưng Chúa là "!ức Chúa Trời Hằng Hữu".!lÉ0/[ la«ế hw:ẽhy¼trong
Sáng thế ký 21:33 như sau:[b'vÉ= ra«¢b]šBi lv,aẳÔ [FéếYIšw".!lÉ0/[ la«ế hw:ẽhy¼ !v«ếšB] !v;ủAar:q]YIâšw"thì danh Ngài là hw:ẽhy¼ (Yê-hô-va). Không ai biết chắc phải đọc danh Ngài như thế nào mới đúng vì gồm bốn nguyên âm của tiếng
Do-thái, nhưng chữ hw:ẽhy¼ (Yê-hô-va) chắc là một chữ biến
thểâ từ động từ "to be" thuộc diện chưa hoàn tất imperfect, ngôi thứ ba, giống nam, số ít, có nghĩa là !ấng Hiện Hữu (= !ấng đang có bây giờ, và chưa dứt).Chữ !lÉ0/[ (Ôlam) đi kèm theo động từ hw:ẽhy¼ cho chúng ta biết rằng Chúa là !ấng còn có cho đến đời đời, là !ấng Hằng Hữu. !ộng từ "to be" trong diện chưa hoàn tất của tiếng
Hy-bá-lai được dảch sang tiếng Anh ở thì hiện tại (present) thì cũng chínhxác nếu hiâu theo quan niệm về thời gian của người
Do-thái, vì ranh giới giữa cái đã hoàn tất và cái chưa hoàn tất chính là hiện tại. Hiện tại đó tiến mãi theo thời gian, đã có từ trước vô cùng và sẽ còn có cho đến đời đời.Trong cuộc đối thoại với !ức Giê-hô-va, lãnh tụ Môi-se có hỏi tên Ngài là gì. Chúa
đáp rằng tên Ngài là :ta là đấng hằng hữuhy<ũh]aẳ0 rvẳ¢a} hy<ẽh]aẳ0(I AM WHO I AM).
Lời nầy trích từ Xuất 3:14 -
hy<ẽh]aẳ0 hv,ủmoAla, !~yhilèa> rm,aYo»šw"r~m'ato hKo¥ rm,aYoỏšw" hy<ũh]aẳ0 rvẳ¢a}ynIšjéếl;v] hy<ẽh]aẳ0 laeủr:c]yI ynEắb]šli!kẳ0šylea}"
Ðức Chúa Trời phán cùng Môi-se rằng: Ta là Ðấng Hằng Hữu. Ngài lại
phán rằng: Hãy nói con cái của Y-sơ-ra-ên rằng: Ðấng Hằng Hữu đã sai ta đến cùng
các ngươi."Ðức Chúa Trời xưng danh Ngài bằng động từ "to be" thuộc diện chưa hoàn tất, ngôi thứ nhất, giống nam, và số ít hy<ẽh]aẳ0. Từ danh ấy, chúng ta có
thể hiểu được rằng Ngài là một Thực Tại, một Ðấng đã có sự hiện diện từ trước vô cùng ( !lÉ0/[ ), đang hiện diện và sẽ còn hiện diện mãi mãi theo giòng thời gian ( !lÉ0/[
).
Dân Do-thái thời nay hãy còn xử dụng danh từ Ôlam chỉ về thế giới loài người (the world), hoặc chỉ về vũ trụ thiên nhiên (cosmos, the universe), hoặc chỉ về nước Thiên-đàng (the Paradise) theo nghĩa bóng. Khi được dùng như một trạng từ (adverb), Ôlam có nghĩa là đến đời đời (to eternity), hay là đến mãi mãi (forever) mà không hàm ý gì
khác.
Mục-sư Nguyễn Hữu Phúc
|