Hãy tưởng nhớ, tri ân Ðấng
Tạo Hóa.
(Giải nghĩaTruyền Ðạo đoạn 12 )
"Trời cao có Ðấng Thánh tri
Ân tình tưởng nhớ hàn vi bao giờ"
Xã hội Việt nam, mọi công dân đều biết Tổ Tiên,
chẳng những dựng nước, mà mở mang lãnh thổ ngày càng rộng
lớn, còn cố gắng phát triển không ngừng văn chương, thi phú. Mong
dạy dỗ hậu thế được thông đạt lý lẽ làm công dân tốt đúng
Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí và Tín.
Bởi vậy, cả 3 miền Nam - Trung - Bắc đều có nhiều câu hò, câu
đối, để cùng nhau trao đổi văn hóa, nghệ thuật lúc rỗi rãnh, sau
cuộc mưu sinh nhiều mệt nhọc, cho chúng ta thấy sự phong phú của
ngôn ngữ dân tộc qua nhiều ngàn năm văn hiến.
Có những câu hò, đối đáp như sau giữa đôi nam nữ:
Em đố anh...
1) Dầu chi là dầu không thắp?
2) Bắp chi là bắp không rang?
3) Than chi là than không quạt?
4) Bạc chi là bạc không tiêu (tiêu xài) ?
Trang nam nhi mà anh đối đặng, giải lụa đào em trao.
Chàng trai chậm rãi đáp:
- Mưa nắng dãi dầu, là dầu không thắp.
- Miệng mồm lắp ba, lắp bắp, là bắp không rang.
- Than than, thở thở là than không quạt.
- Bạc tình, bạc nghĩa, là bạc không tiêu.
Trang nam nhi đã đáp đặng, dải lụa điều em có sẵn chưa?
Xin quí vị xem sự giải thích 2 chưõ Tạo
Hóa."Tạo" có nghĩa là
dựng nên....
"Hóa" có nghĩa là biến thể chất nầy
sang thể chất khác....
Sáng Thế Ký 1:26 - 30: Sự tạo dựng loài người của Ðấng Tạo
Hóa.
Sáng Thế Ký 2:7 : Ðấng Tạo Hóa biến hình người từ thể chất
bụi đất, trở nên xương, máu và thịt và gởi cho loài người sanh
khí của Ngài (sự sống). Hình gười bằng cát bụi, trở nên một
loài sanh linh.
Sáng Thế Ký 3:16 - 19: Giải thích về mưa nắng dải dầu là dầu không
thắp.
Xuất Ê-díp-tô-ký 4:13 - 14: Giải thích về câu than chi là than không
quạt.
Rôma 1:21: giải thích về câu bạc chi là bạc không tiêu, tức là
bạc tình, bạc nghĩa của con người thọ tạo bởi Ðấng Tạo Hóa.
Trên đời, bạc tình, bạc nghĩa là điều chúng ta thấy nhiều nhứt
trong cuộc sống loài người. Lại có câu "Cứu
vật, vật trả ơn, cứu nhân, nhân trả oán". Lẽ dĩ nhiên,
chẳng phải tất cả mọi người đều lấy oán trả ơn. Thế nhưng,
thông thường ở đời, số người biết ơn và thật sự trả ơn
không có nhiều. Và số người bạc tình, bạc nghĩa cũng không ít.
Tại sao, bạc tình, bạc nghĩa là điều lại không hiếm? Có thể, vì
bản tánh tội lỗi con người. Thánh Kinh dạy: "Dù
biết Thượng Ðế, nhưng họ chẳng tôn vinh hay biết ơn Ngài"
(Rôma 1:18 - 21)
Tánh bạc tình hay lòng ân của con người bắt đầu từ chổ không
tri ân, không biết tưởng nhớ đến Ðấng Tạo Hóa. Ðiều chắc
chắn 100%, loài người không tự nhiên mà có mặt trên quả địa
cầu. Và điều không ai có thể chối bỏ là con người do chính Ðấng
Tạo Hóa dựng nên. "Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sinh khí (linh hồn
sống) vào lỗ mũi, thì người trở nên một loài sanh linh."
( Sáng 2:7) Riêng, dân tộc VN, chắc chắn mọi người đều biết có
ông Trời, là Thượng Ðế, Ðấng Thiêng liêng, cao cả hơn hết. Ðã
biết ông Trời sanh ra, nhưng tưởng nhớ, tri ân, vâng phục, tôn
thờ Ngài, không phải là điều mà mọi người làm được. Trong
xã hội loài người, chẳng có một ai ưa thích những kẻ vong ân,
bội nghĩa. Nếu chúng ta nhận biết do Ðấng Tạo Hóa dựng nên, mà
chúng ta không tôn thờ Ngài, thì chúng ta chẳng khác gì những kẻ
bạc tình, bạc nghĩa vậy. Ðấng Tạo Hóa, Ngài tạo dựng nên chúng
ta, ban cho chúng ta đặc ân được thấy ánh sáng sự sống vinh quang
của mặt Trời, mặt Trăng cùng hằng hà, sa số các vì tinh tú trên
vũ tru. Ngài lại ban cho chúng ta muôn muôn, triệu triệu nhu cầu cho
cuộc sống hằng ngày. Luôn luôn cứu giúp chúng ta khi chúng ta ăn
năn tội lỗi, khẩn cầu cùng Ngài, vì chính Ngài là Thiên phụ yêu
thương, đầy lòng nhân ái đối với những ai tin cậy, thờ
phượng, vâng phục Ngài. Quả thật, nếu chúng ta không vâng phục,
không tôn thờ Ðấng Tạo Hóa, thì chính chúng ta vong ân, bội nghĩa.
Tuy nhiên, vẫn có nhiều người bị mang tiếng bạc tình, bạc nghĩa chỉ
vì họ không được biết đích xác Ðấng Thi Ân của mình là Ðấng
nào. Họï chỉ biết ông Trời mà họ không được dạy dỗ, giải
thích tường tận bổn phận mình phải đối với ông Trời thế nào,
vì vậy họ chỉ mang tiếng vong ân, bội nghĩa. Ðây, xin giới thiệu
với quí vị, các bạn biết rõ, chính Ðấng Tạo Hóa là Ân Nhân
của loài người chúng ta. Ðúng ra, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời là
Cha Thiên Thượng là Ðấng Tạo Hóa. Ngài tạo dựng nên loài
người giống như hình Ngài, dựng nên người nam cùng người nữ.
(Sáng 1:27) Chúa luôn luôn chăm sóc con người hằng ngày, và chính
Chúa Cứu Thế Giê-xu, Ngôi Hai. Con một rất yêu dấu của Ðấng Tạo
Hóa. Chúa Giê-xu Christ, xãõ thân quí báu của Ngài trên thập tự
giá ác nghiệt, chịu bao sỉ nhục, khinh bỉ, nhục nhã giống như kẻ
phạm trọng tội, để chuộc tội lỗi cho nhân loại. Hễ ai tin nhận
Ngài đổ huyết báu ra vì tội lỗi của chính mình, Ngài sẽ ban cho kẻ
ấy được quyền phép từ kẻ có tội đáng bị chết mất, mà
được trở lại làm con cái của Ðức Chúa Trời, tức là được
h ưởng sự sống đời đời. Giăng 3:16: "Vì
Ðức Chúa Trời yêu thế gian, đến đỗi đã ban con một của Ngài,
hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời
đời." Ngài lại ban cho kẻ được lựa chọn,
tức là kẻ hoàn toàn vâng phục, dâng trọn đời sống cho Chúa,
được hưởng nước sự sống. Trong Khải Huyền 22:1: "Thiên sứ chỉ cho tôi xem sông nước sự sống trong như
lưu ly từ ngôi Ðức Chúa Trời và Chiên Con chảy ra, chỉ về Ðức
Chúa Thánh Linh, kẻ ấy được ăn trái cây sự sống..."
tức là cây trồng giữa vườn Eden mà khi xưa Ðức Giê-hô-va
không cho phép Adam - Eva ăn đến. Quả thật, phước hạnh chạy theo
những kẻ có lòng vâng phục, tôn vinh, thờ lạy Ngài (Thi Thiên 23:6
). Nơi sông nước sự sống, Ðức Chúa Trời là Ðấng Tạo Hóa,
Chiên Con là Ðấng Cứu Thế Giê-xu, Ngài ban hồng ân cho kẻ vâng
phục Ngài. Chẳng có tình yêu nào trên đời sống con người có
thể so sánh với tình yêu thương của Chúa Cứu Thế Giê-xu đã
dành cho nhân loại, nhứt là kẻ đã vâng phục, dâng tâm hồn lẫn
thể xác lên cho Ngài. Ngài chẳng đòi hỏi chúng ta phải trả ơn cho
Ngài điều gì cả. Ngài chỉ mong chúng ta nhận Ngài là Chúa, là
Chủ, là Cha, là Thượng Ðế đầy nhơn từ mà quay trở về thuần
phục, tôn thờ Ngài, hầu cho chúng ta không còn là những kẻ vong
ân, bội nghĩa nữa. Quí vị có biết chúng ta là con cái của Chúa
không? Các bạn có biết Chúa Giê-xu là Ðấng Cứu Thế, Ngài đã
chết thay cho quí vị, giải thoát quí bạn khỏi sự chết đời đời
dưới hỏa ngục không? (Khải Huyền 20:11 - 15 ). Ngài không đòi hỏi
quí vị điều gì ngoài việc tiếp nhận Ðấng Tạo Hóa làm Thiên Phụ
từ ái, vâng phục sự dạy dỗ Cứu Chúa Giê-xu, là Ðấng Thánh hy
sinh trên thập tự giá để cứu các bạn. Chúa mong quí vị tôn thờ
Ngài, hầu cho quí vị xứng đáng làm con yêu dấu của Ðấng Tạo
Hóa, không còn là người bội bạc nữa.
Vì vậy, chúng ta hãy tưởng nhớ đến Ðấng Tạo Hóa.
Chữ "tưởng nhớ" ở đây có nghĩa là luôn luôn, mãi
mãi, lúc nào cũng suy nghĩ về Ngài, hướng tâm tư, ý tưởng của
mình đến Ngài, dâng cả hồn linh, cốt tủy mà tôn vinh Ðấng Tạo
Hóa của mình.
Ba ngôi Ðức Chúa trời hiệp một trở nên Chân Thần.
"Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời, chỉ có một
Ðấng Trung Bảo giữa Ðức Chúa Trời và loài người, tức là
Ðức Chúa Giê-xu Christ, Ngài đã phó chính thân thể Ngài làm giá
chuộc tội cho loài người" (I Timôthê 2:5 ). "Cho nên, hiện nay chẳng có sự đoán phạt nào cho những
kẻ ở trong Ðức Chúa Giê-xu Christ." (Rôma 8:1). "Hãy tưởng nhớ đến Ðấng Tạo Hóa lúc còn thơ
ấu." (Truyền Ðạo 12:1-6). "Trước ngày gian tuân chưa đến."
Gian nan, hay gian truân cùng nghĩa, ấy là ngày buồn bã của tuổi già.
Ðời người bắt đầu là ấu nhi, thiếu nhi, thiến niên, thanh niên,
trung niên và lão niên, cho nên chúng ta hãy tìm quay về với Ðấng
Tạo Hóa . Trước câu "Ta không lấy làm vui lòng" có nghĩa
vào tuổi thanh niên trở đi là lúc con n gười phải đương đầu
với cuộc sống đầy khó khăn, đau khổ ngoài lòng mong ước. Ngày
ánh sáng mặt trời, mặt trăng chưa tối tăm. Có nghĩa lúc con
người khép kín đải mắt, đến lúc loài người trở về bóng
tối.
Ðức Giê-hô-va ban cho thế gian nhân loại mặt trời, mặt trăng.
(Sáng 1:12-16). Mặt trời tượng trưng cho nhiệt năng để sưởi ấm
loài người và cũng rất cần thiết cho đời sống trên đất. Ấy
là ánh sáng sự sống, loài người cùng vạn vật không thể thiếu
được. Con người văn minh ngày nay đang xử dụng năng lượng lấy
từ mặt trời, nhiệt năng rất cần thiết mọi kỹ nghệ không gian.
Có thể nói mặt trời là sức lực của nhân loại, tư thức, tài
năng, phương tiện, nguồn lợi vô tận, không tốn kém. Trong lúc
loài người chưa kiệt quệ, mọi người đều phải đến chỗ
"Sức cùng, lực tận". Tổ tiên dạy "Sau cơn mưa, trời
lại sáng" đây là chút mong manh của đời sống nhân loại, tự
an ủi. Ðời là bể khổ qua 4 chữ Sanh - Lão - Bịnh - Tử, chẳng có
một người nào khoát khỏi định luật của Ðấng Tạo Hóa cả. Ðời
người sẽ là 120 năm mà thôi. (Sáng Thế Ký 6:3) . Và kết thúc
cuộc đời qua câu Hê-bơ-rơ 9:27: "Theo như đã
định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét."
Quan niệm của con người, sau cơn mưa, trời lại sáng, mây đen sẽ
chấm dứt. Truyền đạo 12:2 : có nghĩa ngược lại và mây lại tuôn
đến sau cơn mưa, có nghĩa sau cơn mưa, mây vẫn tiếp tục kéo đến
cơn mưa khác. Cơn mưa sau, có ý nói về giông tố, phong ba, hoạn nạn,
khó khăn, thử thách, buồn não, chán nãn, ê chề, là những gì
ảnh hưởng đến do tội lỗi của thế gian gây nên. Cùng như thế gian
chìm trong mờ tối.
Ðời con người, vô phương tự giải thoát khỏi cảnh khổ, cơ cực,
đọa đày, đau thương và tuyệt vọng. Vì thế có câu "Họa vô
đơn chí, phước bất trùng lai" có nghĩa là họa không đến
chiếc, phước không đến hai lần. Quả thật, những ngày tươi đẹp,
cảnh vật xinh tươi vào mùa Xuân làm cho con người hăng hái vui
tươi những ngày Xuân sắp đến.
Con người cho là phước, nhưng phước bất trùng lai. Những điều
tạm gọi là phước hạnh mong manh, hiếm hoi, chỉ thoáng qua trong chốc
lát, tỉû như sương mai tan ngay khi ánh dương lơ điệu. Phước không
đến với chúng ta nhiều lần. Ngược lại "họa vô đơn chí"
tức là tai họa luôn luôn đeo đuổi chúng ta. Lẽ ra "Hết cơn bỉ
cực, đến hồi thới lai". Thật quá phủ phàn cho loài người!
Cho nên cuộc sống con người quả là vô nghĩa! Hư không! Như câu 8
"Hư không của sự hư không, mọi sự đều là hư không."
Muốn đạt được ý nghĩa đích thực của cuộc sống, chúng ta hãy
tưởng nhớ đến Ðấng Tạo Hóa, chỉ chính Ngài sẽ ban cho chúng ta
một cuộc sống vĩnh cữu, đầy ý nghĩa mà thôi.
Trước khi kẻ giữ nhà run
rẩy, người mạnh sức cong khom.
Mỗi con người đều có 2 phần, linh hồn và thể xác. Phần quan
trọng là linh hồn. Có người cho rằng linh hồn con người bị giam cầm
trong thể xác, là nhà tù suốt cuộc đời.
Sứ đồ Phao lô viết trong II Cô-rinh-tô 5:1: Ôâng giải thích, thân
thể là nhà tạm do loài người tạo nên, linh hồn là nhà đời
đời ở trên trời bởi Ðấng Tạo Hóa, không phải tay người làm
ra, cho nên linh hồn mới đích thật là chủ nhân ông đang cư ngụ
trong nhà tạm.
II Cô-rinh-tô 5:9-10: " Vả, chúng ta biết rằng nhà tạm của chúng
ta ở dưới đất đổ nát, thì chúng ta lại sẽ có nhà đời đời
trên trời, tuy nhiên lúc chúng ta dầu còn ở trong thân thể nầy,
dầu ra khỏi, cũng phải làm hết sức để được đẹp lòng Chúa,
hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình
đã làm lúc còn trong xác thịt."
Ba chữ "làm hết sức" tức là hết lòng, hết sức hết ý,
hết linh hồn, hết trí khôn mà kính mến Ðức Chúa Trời và yêu
thương kể lân cận như chính mình. (Luca 10:27)
Linh hồn là phần tối quan trọng của con người, cho nên vì thế,
chúng ta phải dày công xây đắp "Ðức Tin" (Hê-bơ-rơ 11:1)
của chúng ta. Hầu đoạt được nhà đời đời tại thiên đàng.
Nếu không, chúng ta sẽ mất phần ân điển của Ðấng Tạo Hóa.
Ðấng Cứu Thế Giê-xu yêu quí của chúng ta, Ngài phán dạy rằng
"Nếu người nào được cả thiên hạ , mà mất linh hồn mình thì
có ích chi. Vậy thì, người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại"
(Ma-thi-ơ 15:26) . Thân thể là cái nhà tạm, kẻ giữ nhà là tứ chi
(2 chân, 2 tay) vì vậy chúng ta hãy tưởng nhớ đến Ðấng Tạo Hóa
trước khi chân, tay của chúng ta chưa yếu đuối, chưa rua rẩy, lưng
chưa mỏi, cong khom, gối chưa đùi. Bấy giờ chúng ta còn đủ sức
để hầu việc Chúa, cùng nhau hiệp lực để xây nhà thuộc linh,
chính Ðức Chúa Trời đang dành sẵn cho chúng ta qua lời hứa của
Ngài trong Thánh Kinh.
Trước khi kẻ xay cối ngừng
lại bởi vì số ít.
Tuổi xế bóng, hàm răng đẹp đẻ, đều đặn trước kia với 32
chiếc, bởi tuổi già, không còn nguyên vẹn, chỉ còn lại lưa thưa
số ít. Ấy là kẻ xay cối muốn ngừng lại, tạm nghĩ về số ít
(rụng gần hết) dù vẫn muốn xay cối, nhưng không nổi về yếu đuối,
mòn mỏi, đau đớn, mệt nhọc. Cho nên chúng ta hãy tưởng nhớ
đến Ðấng Tạo Hóa, trước khi thảm cảnh ấy xảy ra.
Những kẻ trông qua cửa sổ
đã làn mắt.
Ðấng Cứu Thế Giê-xu phán rằng... Con mắt là đèn của thân
thể, nếu mắt ngươi sáng sủa, thì cả thân thể ngươi sẽ sáng
láng. Nhưng nếu mắt ngươi chỉ là tối tăm, thì sự tối tăm nầy
sẽ lớn biết là dường bao. (Ma-thi-ơ 6:22-23). Hai chữ "tối
tăm" có nghĩa là mắt của con người tội lỗi, cặp mắt của họ
sẽ là tối tăm, vì không thể thấy, hiểu về ơn cứu rỗi của Chúa
qua lời rao giảng. Mà cũng về sự tối tăm đó sẽ làm cho người
cứng lòng, dù cho họ hiểu biết, cũng không chịu chấp nhận lời
lành từ môi miệng của kẻ chứng nhân. Tuổi già, đôi mắt chúng
ta ngày càng yếu đi. Nhìn không rõ, đọc không thấy. Xem không tỏ
tường như lúc tuổi còn thanh xuân. Nhất là nghe, thấy về việc thế
giới bên kia về lời Chúa không thấy, không hiểu, khó nghe vì tai
yếu, khó tin, khó chấp nhận Ðấng Tạo Hóa làm Chúa, làm chủ
đời sống mình.
Hai cánh cửa bên đường
đóng lại và tiếng xay môn lần.
Ðôi cánh cửa bên đường đóng lại, chỉ về đôi môi con
người mỏn lần. Miệng không muốn nhai. Ít muốn ăn, hay nói gì. Hai
môi, như hai cánh cửa của thân thể cũng khép kín. Tiếng xay có
nghĩa là tiếng nhai thức ăn cũng ít đi.
Vậy, chúng ta phải tôn vinh Thượng Ðế khi thảm cảnh nầy chưa xảy
đến.
Lúc ấy, người ta nghe tiếng
chim kêu, bèn chờ dậy.
Giấc ngủ của người già giảm đi, thức giấc trước khi chim gáy
sáng. Ðêm nằm trằn trọc mãi trên giường, hết suy việc nọ, tính
đến việc kia. Khi mình ngủ, người khác thức. Lúc người ngủ, thì
mình không ngủ được, gây nhiều phiền toái cho người chung quanh.
Tiếng con gái hát, bắt đầu
hạ hơi.
Thông thường, tiếng gái trẻ hát đều thánh thoát, trong trẻo dịu
êm. Người nghe thấy đều có cảm giác lâng lâng tâm trí, lòng
thấy nhẹ nhàn, hứng thú. Như lúc nghe bản nhạc êm dịu, trầm hổng,
lên cao, xuống thấp, làm cho thính giả cảm hứng thảy đều muốn cất
giọng hòa điệu, vui chơi, thanh thoảng tâm hồn sau cơn mưu sinh mệt
mỏi. Nhưng người cao tuổi lại không có hứng thú cất tiếng hát,
lại thường ít nghe hòa nhạc, dù cho cố gắng cất tiếng hát, thì
cũng hạ hơi (không đủ sức)
Cho nên, lúc ta còn mạnh sức, hãy tiếp nhận Ðấng Chủ Tể oai
quyền làm Chúa, làm Thiên phụ của đời sống mình. Thờ phượng,
tôn vinh, vâng phục, hầu việc Ngài. Dâng tiếng hát, câu ca tươi
mát lên cho Ngài. Khi chúng ta còn trong thì thanh xuân, chớ nên chậm
trể. Vì khi đến tuổi già, dù cho hết sức cố gắng hát ngợi khen,
tôn vinh Chúa với anh, chị, em mình, cũng không sao đủ hơi, đủ sức,
đủ giọng mà hát, ca ngợi Chúa mình.
Lại người ta sợ sệt mà
lên cao và hải hùng lúc đi đường.
Hầu như gần hết người già không thích trèo cao, lên đèo, xuống
dốc lúc đi đường mệt mỏi, đi đâu cũng sợ, vì yếu sức.
Bởi vậy, chúng ta phải cần tin nhận, tưởng nhớ, tri ân, thờ
phượng, vâng phục Ðấng Tạo Hóa, hầu cho chúng ta có nhiều cơ hội
phụng sự Chúa, ngay lúc chúng ta còn cơ hội.
Lúc ấy cây hạnh trổ bông,
cào cào trở nên nặng và sự ước ao không còn nữa
Tác người già biến đổi từ đen ra trắng, lém đém màu như
muối tiêu đến bạc trắng phau. Ðó là tỉ như cây Hạnh trổ bông.
(Giê-rê-mi 1:11): Thưa rằng: "Tôi thấy cây gậy bằng cây
hạnh". Xưa người Y-sơ-ra-ên gọi cây hạnh bằng cây
"Thức" vì nó trổ hoa trước đồng loại . Vì từ trong giấc
ngủ mùa Ðông, kết mụ trước các cây khác vào đầu xuân. Cho
nên, cây hạnh là hiện diện của sự tỉnh thức của Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời toàn năng, toàn quyền, Chủ Tể loài người và
vũ trụ. (Xin xem trong Dân-Số-Ký 17:8: gậy cây hạnh trổ hoa của
Arôn.)
Người tin nhận, hầu việc Chúa, lúc xuân thời, mái tóc đen mướt
mược, tượng trưng cho sự dẻo dai, đầy nhựa sống, nhẹ nhàn. Khi
trở về già là tuổi nghỉ ngơi, chấm dứt mọi sinh hoạt, cuộc đời
con người khác nào cây hạnh, mỗi năm trổ hoa, chứng tỏ nó sắp
già, cổi, suy tàn đến nơi.
Cào cào trở nên nặng
Về thể chất, thân hình con cào cào rất nhẹ. Tỉ như kẻ già nua
xương cứng, thịt ít, trở nên nhẹ người ví như sức nặng của con
cào cào. Tuy đã giảm sức nặng, nhưng con người về già cũng vẫn
cảm thấy nặng nề khi cất bước. Lên xe, xuống bến thuyền, vẫn
thấy rất là nặng nhọc, rất cần người nâng, kẻ đở, người
đưa, kẻ rước và không cho phép tiếp tục cuộc hành trình đã dự
tính trước.
Sự ước ao chẳng còn nữa
Về già, phần lớn con người không còn ước ao gì cho vĩ đại.
Mà chỉ mong chết sớm cho khỏe thân già, khỏi phiền lụy đến con,
cháu. Dù cho sự ao ước lớn lao hay nhỏ bé, cũng chẳng chắc khó
ai tin được. Họ thường than rằng tuổi của tôi còn làm gì được
nữa "gần đất, xa trời" sống ngày nào, hay ngày nấy, hết
hy vọng rồi. Họ quên rằng tổ tiên có câu "Còn nước, còn
tát" tức là phải nắm vững cơ hội. Tuy già, nhưng vẫn còn cơ
hội được cứu, nếu ta bằng lòng đầu phục, tưởng nhớ đến
Ðấng Tạo hóa mà ăn năn tội bất tuân, trở lại vâng phục Ngài,
thì cũng vẫn còn cơ hội. Vì chính Ðấng Christ đã hứa ban cho những
kẻ tiếp nhận Ngài, thì Ngài sẽ ban cho người ấy được quyền
phép trở lại hòa thuận mà xưng nhận Thượng Ðế làm Cha mình.
Nhưng những kẻ đã tiếp nhận Chúa, thì họ có sự trông cậy sống
vì Ðức Chúa Trời là Ðấng Sống, cho nên sự trông cậy của họ
ngược lại và tin quả quyết rằng tuổi già là thời kỳ "gần
trời, xa đất, tức là thời kỳ họ sẽ xa đất, sớm đến sự
sống đời đời. Những người tiếp nhận Chúa Giê-xu làm chủ của
đời sống mình, lúc qua đời, sẽ về sống đời đời với Ðấng
Christ trong trời mới, đất mới trong thành Giê-ru-sa-lem mới. Tức
là vượn địa dàng trên đất cả ngàn năm, là nhận được sự
sống đời đời theo lời hứa của Giê-xu Christ trong Giăng 3:16.
Các bạn hãy nhẫm tính xem 1000 năm ở với Chúa là bao nhiêu năm
trong đời sống vật chất hiện trên mặt đất? Chắc chắn quí bạn
sẽ vui mừng quá đỗi, khi các vị có đáp số theo câu dưới đây.
Trong II Phi-e-rơ 3:8 cho biết: "Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ quên
rằng ở trước mặt Chúa, một ngày như ngàn năm, ngàn năm như
một ngày." Như vậy, sứ đồ Phi-e-rơ nói với ai đây? Có phải
ông nói với các bạn hay không? Nếu quí vị muốn nhận điều trên
đây, không có cách nào khác là ngay bây giờ hãy tiếp nhận sự
hy sinh của Ðấng Cứu thế Giê-xu làm chủ đời sống mình, quí vị
sẽ đượïc toại nguyện như sự mong muốn.
Chúng ta hãy cẩn thận, đừng để ma quỉ lường gạt. Nhiều người
thầm hẹn rằng để ngày mai, lần kế tiếp, tôi sẽ tin nhận Chúa.
Ngày kia, tôi sẽ dâng mình hầu việc Chúa. Ngày tới, tôi sẽ thờ
phượng, tri ân Ðấng Tạo Hóa.
Ngài mai, là bài toán không có đáp số chắc chắn, rõ ràng. Không
có định luật. Chỉ là lời nói suông. Không có điểm tựa chỉ
ngày, chỉ nơi nào nhứt định.
Ngụ ngôn Tây phương có câu "Người kia thấy trước quán cơm
có để tẩm bảng như sau. Hôm nay, ngươi trả tiền rượu, thịt, bánh,
ngày mai ngươi ăn, uống khỏi trả tiền" Ngài mai, ông ấy đến
gọi cơm gồm có rượu, thịt bánh, ăn xong bữa no nê, chủ quán
đến tính tiền, ông khách bảo chủ quán hãy tự đọc tấm bảng
trước cửa mà chính ông đã treo trước cửa.
Chủ quán giải thích, chính tôi viết vào treo rằng ông trả đầy đủ
tiền, ngày mai, ông sẽ không tính tiền. Nếu nói suông như vậy rằng
ngày mai, có nghĩa là lời nói không dứt khoát, cũng có nghĩa
ngày mai hay ngày nay cũng chỉ là một ngày.
Lại hồi tưởng nhớ Ðấng
Tạo Hóa trước khi dây bạc đứt và chén vàng bể,
trước khi vò vỡ ra bên suối và bánh xe gãy ra trên giếng.
Hai chữ "đứt và bể" là 2 động từ xảy ra thình lình,
chẳng có ai biết trước. Cũng như Chúa Giê-xu phán rằng, ta đến
thình lình như kẻ trộm, tức là ngày không ngờ, giờ không biết.
Ngài bảo chúng ta hãy tỉnh thức, chờ đợi sẵn, thức canh mà
trông đợi Ngài đến. "Dây bạc" tượng trưng cho thân thể
(nhà tạm) của chúng ta đang sống. "Chén vàng" là linh hồn,
nhưng chẳng có một người nào trên đời nầy mà được biết
chính xác, phút, giờ, ngày, tháng, năm nào mình sẽ lìa đời, lúc
nào sẽ chắm dứt cuộc sống tạm bợ ở trần gian nầy.
Có câu rất xác thực, tổ phụ chúng ta để lại cho hậu thế
"Sanh hữu hạn, tử vô kỳ". Sự chết đến bất chợt, thình
lình. Chúa Cứu Thế Giê-xu, Ngài chắc chắn sẽ tái lâm, nhưng cũng
bất ngờ. Thánh Kinh dạy "Ta đến mau chóng như kẻ trộm, trong
ngày các ngươi không ngờ, giờ các ngươi không biết ". Hiện
nay, chúng ta còn có dịp tiện, là cơ hội quí báu, thì giờ vàng
ngọc để tưởng nhớ đến Ðấng Tạo Hóa khi chúng ta còn sanh tiền
mà tiếp nhận ân phước cứu rỗi từ Thượng Ðế. Nếu không tin
nhận Chúa ngay, sẽ lỡ cơ hội quí báu vô tiền, khoáng hậu.
Dây bạc đứt, nói về thời gian vô định, nói về sự sáng.
"Bên suối nước, bên giếng", chỉ về nước, tức Ðức
Chúa Thánh Linh
Hai yếu tố rất quan trọng cho cuộc sống nhân loại tức là ánh sáng
và nước. Là điều loài người rất cần đến. Nhưng khi chúng ta qua
đời, thì mọi việc, đều đổ vỡ cả. Mọi chương trình, mọi hy
vọng, mọi kế hoạch, mọi ước vọng mọi toan tính của con người cả
thảy đều chấm dứt, là hư không . Tác giả nói: Hư không của sự
hư không, mọi sự đều hư không.
Vò vỡ ra bên suối
Cuộc đời nhân loại, Thánh Kinh ví như chiếc vò bằng đất, bằng
bạc, bằng vàng, bằng ngọc, thứ dùng về việc sang, thứ thì dùng
trong việc hèn. Các bình, vò, dùng để lấy nước, đựng nước,
chứa dầu. Nước đây chỉ về nước sự sống, nước cứu rỗi.
Sông nước hằng sống chỉ về Ðức Chúa Thánh Linh. Bình, vò chỉ về
kẻ xác thịt. (Khải Huyền 22:1; II Ti-mô-thê 2:20-21; Giê-rê-mi 18:3-4.)
Ðấng Tạo Hóa, Ngài tạo dựng, ban cho chúng ta được bình an, sự
sống, vui mừng. Nhưng sẽ đến lúc chúng ta không nhận được sự
cứu rỗi nữa vì hết cơ hội. Bởi vì chúng ta đã ch���t, dù cho
được chôn cất ngay trong nhà thờ, được tổ chức linh đình, làm
lễ tại nhà thờ trước đám đông quan khách, chức sắc. Ðược
đưa đón long trọng ngoài đường phố, tất cả đều vô dụng! Dù
cho Tin Lành cứu rỗi vẫn còn rao giảng, dù cho cửa ân điển chưa
chấm dứt, dù cho sự học hỏi về ơn cứu rỗi vẫn còn rao giảng.
Nhưng ai kia đã xuôi tay, nhắm mất lìa đời, thì không còn cơ hội
thuận tiện nữa, chết là chấm dứt mọi sự nơi cỏi tạm.
Vò, bình đã vỡ, bể ra rồi, dù cho nằm cạnh suối nước hằng
sống vẫn đều đều tuôn chảy, nhưng chúng ta đâu còn cơ hội để
tiếp nhận nước suối hằng sống ấy được nữa.
Bánh xe gãy ra bên giếng
Kinh Thánh dạy, loài người tỉ như khách bộ hành trên đất. Xe
cộ dùng đến để chuyên chở, vận hành trong sinh hoạt hằng ngày
trong đời sống con người. Nhưng nay đã gãy, đổ rồi! Dù cho nằm
bên cạnh giếng nước cũng chẳng làm chi được, mặc dù chỉ cách
xa gang tất mà thôi. (II Cô-rinh-tô 6:2). Thơ của sứ đồ Phao lô:
"Hiện nay là giờ thuận tiện, kìa nay là ngày cứu rỗi".
Hãy lợi dụng thì giờ thuận lợi mà nhận ơn cứu rỗi của
Thượng Ðế dành cho chúng ta.
Và bụi tro trở vào đất y
như nguyên cũ, và thần linh trở về nơi Ðức Chúa Trời, là Ðấng
đã ban nó.
Bụi tro sẽ trở vào đất y như nguyên củ. Thần linh về nơi Ðức
Chúa Trời. Chính Ngài đã ban nó ra từ buổi sáng tạo con người.
Lúc đầu, đã đề cập đến con người, gồm có 2 phần, linh hồn và
thể xác. Sự chết sẽ chia sẽ phần ấy, mỗi phần đều phải trở
về nơi căn củ của nó. Phần thân thể (nhà tạm dưới đất) sẽ
đổ nát, phải trở về bụi đất, là nơi bởi đó mà thân xác con
người được Ðấng Tạo Hóa dựng nên. Thần linh, là linh hồn, là
sanh khí chính Ðức Chúa Trời hà vào lỗ mũi tượng đất, trở
nên một loài sanh linh, sẽ trở về cùng Ðấng Tạo Hóa, sẽ ở
với Chúa Giê-xu. Tâm linh, thể xác sẽ quay về một trong hai nơi vừa
kể trên. Cho nên, tất cả linh hồn nào đã vâng phục Chúa Cứu
Thế Giê-xu, tất cả sẽ được vào ở cùng với Ngài, y như Ngài
đã tuyên hứa trong Giăng 3:16. Ngài biết lòng loài người bối rối
vì họ không biết sau khi qua đời, linh hồn họ sẽ về đâu. Vì vậy
Ngài đã phán hứa với nhân loại trong Giăng 14:1-3: "lòng các
ngươi chớ hề bối rối, hay tin Ðức Chúa Trời, cũng hãy tin ta
nữa. Trong nhà cha ta có nhiều chỗ ở, bằng chẳng vậy ta đã nói
cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ, khi ta đã
đi và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem
các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu, thì các ngươi cũng ở
đó." Hiện nay, Ðấng Christ đang ngồi bên hữu Ðức Chúa Trời
mà cầu thay cho chúng ta là kẻ hoàn toàn vâng phục Ngài . (Công vụ
7:56-57; Hê-bơ-rơ 1:3) . Sứ đồ Phao lô cho chúng ta biết trong II
Cô-rinh-tô 5:1-10: Chỗ ở trên trời :"Vả, chúng ta biết rằng,
nếu nhà tạm chúng ta đổ nát, thì chúng ta lại có nhà đời đời
trên trời, bởi Ðức Chúa Trời, không phải bởi tay người làm
ra". Ngược lại, tất cả linh hồn chưa tin nhận Chúa, hay đã nghe
lời làm chứng về Ngài, về sự sống đời đời mà chối bỏ,
không chịu tiếp nhận Ngài là cha, làm chủ của đời sống mình, lúc
qua đời sẽ bị Chúa cầm lại chỗ riêng biệt để chờ ngày phán
xét cuối cùng trong Hê-bơ-rơ 9:27. Và sẽ bị hình phạt đời đời
trong hồ lửa không hề tắt. ( Khải Huyền 20:11-15, 21:8).
Loài người chúng ta là vật thọ tạo, không hơn, không kém. Cho nên
phải tin nhận, vâng phục, tôn vinh, tri ân Chúa của chúng ta ấy là
cánh duy nhứt tỏ ra chúng ta đã tưởng nhớ đến Ðấng Tạo Hóa.
Linh hồn có giá trị đời đời hay không? Ðược tồn tại vĩnh viễn
hay không? Là do Chúa yêu thương chúng ta, ấy là Thượng Ðế ban cho
chúng ta cuộc sống đầy ý nghĩa, nếu chúng ta bằng lòng hạ mình
xuống mà tiếp nhận, tôn vinh Giê-xu Christ ngay hôm nay.
Nếu có dịp tiện, xin quí vị, các bạn hãy đến hỏi ngay một tín
hữu, một con cái thật của Chúa rằng: Ông, bà, các cụ, anh, chị,
các vị có cảm thấy hối tiếc khi họ tin nhận Cứu Chúa Giê-xu
không? Xin thưa, chắc chắn, chẳng có một con cái Chúa nào, bất kỳ
già, trẻ, lớn bé, sang, hèn, giàu, nghèo cho đến kẻ hèn mọn
nhứt, tất cả đều trả lời lập tức không cầu suy nghĩ, đắn đo
rằng họ chưa hề hối tiếc.
Có chăng họ sẽ nói rằng họ rất hối tiếc vì tiếp nhận Ðấng
Cứu Thế Giê-xu quá muộn, dâng tâm linh, thể xác, lo hầu việc Chúa
quá trễ, hầu việc Chúa trễ quá, làm mất bao nhiêu cơ hội vâng
phục Chúa. Những con cái trung tín ấy sẽ quả quyết với quí vị,
các bạn rằng, Ðấng Cứu Thế Giê-xu là con đường Chân lý, cứu
rỗi, là nguồn sống vĩnh cữu của thế gian.
Chính Ngài là Ðấng duy nhứt dẫn con người tội lỗi được ăn
năn đến với Thượng Ðế, Ðấng Tạo Hóa đầy lòng yêu thương.
Vì ngoài Ngài, con người không thể tự tìm kiếm đấng nào khác
để được sự cứu rỗi cho tâm hồn lẫn thể xác của chính mình.
Quí ông bà, quí vị, các bạn có tâm tình khao khát tìm kiếm Chúa
ngay hôm nay không? Hãy đến, tìm kiếm, tiếp nhận, tôn vinh, vâng
phục Chúa Cứu Thế Giê- xu, lòng quí vị sẽ được đầy hy vọng,
thỏa nguyện. Cuộc đời của quí vị sẽ trở nên hân hoan, tâm linh
quí vị nhận được đầy ân tứ của Ngài ban cho, chẳng những trong
cỏi tạm mà luôn cả những đời sau.
Hư không của sự hư không,
mọi sự đều hư không.
"Hư không" có nghĩa là chẳng còn gì hiện thực, tồn tại
lâu dài. Ý tác giả muốn đề cập là cả thế gian sẽ trở nên
tiêu tán. Chẳng có việc gì dưới trời còn lại trong ngày Ðức
Chúa Trời trở lại phán xét tội lỗi của nhân loại. Ngài sẽ
xử phạt nặng nề cho kẻ không tin nhận, không vâng phục Ngài lúc
sanh tiền. Và sẽ ban ơn lành cho người tôn vinh, vâng phục Ngài.
Khải Huyền 20:11: "Bấy giờ, tôi thấy một tòa lớn và trắng
cùng Ðấng đương ngồi ở trên, trước mặt Ngài đời, đất, biển
đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa". Quí vị
hãy tưởng tượng xem ba chữ trên ở đây có nghĩa gì?
Sáng-thế-ký 1:6-10 : "Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Phải có
một khoảng không ở giữa nước đặng phân sẽ nước cách với
nước. Ngài làm nên khoảng không, phân sẽ nước ở dưới khoảng
không cách với nước ở trên khoảng không, thì có như vậy. Ðức
Chúa Trời đặt tên khoảng không là trời. Vậy có buổi chiều và
buổi mai, ấy là ngày thứ nhì. Ðức Chúa Trời lại phán rằng:
Những nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi, và phải có
chỗ cạn bày ra, thì có như vậy. Ðức Chúa Trời đặt tên chỗ
khô cạn là đất, còn nơi nước tụ lại là biển."
Ngày nay, loài người có bốn biển và năm châu. Bốn biển là Thái
Bình dương, Ðại Tây dương - Bắc Băng dương và Nam Băng dương. Năm
châu là Á Châu, Âu Châu, Mỹ Châu, Phi Châu và Úc Châu. Tuy là
năm châu, nhưng kỳ thật nhỏ hơn bốn biển khá nhiều. Cả bốn biển
và năm châu quá vĩ đại như vậy.
Khi Chúa tái lâm, qua đại quyền, đại vinh của Ngài, trời, đất,
biển đều trốn hết, tiêu tán trước mặt Ngài. Như vậy, trời
đất, biển quá to lớn trước sự tưởng tượng của con người.
Nhưng đối với Ðấng Tạo Hóa chỉ là hư không. Vì vậy, tác giả
truyền đạo mới bắt đầu nói lên trong đoạn Truyền Ðạo 1:2 rằng
"Hư không của sự hư không, thảy đều hư không." Và toàn
bộ sách truyền đạo 12 đoạn, tác giả đều dạy chúng ta rằng mọi
sự trên cõi đời nầy, dù cho to lớn, vĩ đại, vững chắc đến
đâu cũng chỉ là hư không trước Ðấng Tạo Hóa
Sau khi Adam - Êva phạm tội, Ðức Giê-hô-va đuổi ra khỏi vườn Eđen,
sanh sống xa vắng sự chăm sóc của Ðấng Tạo Hóa. Ngày càng gian
ác, trong số nhân sự lúc bấy giờ có Hênóc đồng đi với Ðức
Chúa Trời trong ba trăm năm, đẹp lòng Ngài qua sự trung tín. Cho nên
ông được Ðức Chúa Trời cất ông ra khỏi dân sự, bởi vì
Ðức Chúa trời tiếp người đi. Quí vị có mong được Ngài yêu
thương giống như Hênóc hay không? Hãy vâng phục, tưởng nhớ đến
Ðấng Tạo Hóa ngay hôm nay, mà tiếp nhận Ðấng Cứu Thế Giê-xu.
Thế gian, trời, đất, biển to rộng lớn quá đỗi như vậy, mà không
sao chịu đựng nổi 40 ngày đêm mưa từ trên trời đổ xuống do
Ðấng Tạo Hóa hánh phạt dân sự càng ngày càng gian ác trong đời
Nô-ê qua nạn Ðại Hồng Thủy. (Sáng Thế Ký 7:1-24). Rốt cuộc chỉ
có tám người được cứu: ông bà Nô-ê, ba con trai và ba nàng
dâu. Còn cả thế gian thời bấy giờ đều bị hủy diệt trọn vì
Ðức Giê-hô-va khiến nước dâng cao qua khỏi các núi cao nhất đến
15 thước và trọn 150 ngày.
Các câu còn lại trong Truyền đạo, câu 9-12: nói về
sự khôn ngoan của kẻ truyền đạo. Ông cứ dạy dỗ sự tri thức
cho dân sự. Người đã cân nhắc, tra soát, sắp đặt thứ tự
nhiều câu châm ngôn. Lo tìm kiếm những câu luận tốt đẹp và các
lời ông nói, viết ra là điều chánh trực và chơn thật. Lời
khôn ngoan của ông giống như đót (giống như mũi gai nhọn, đâm thấu
vào hồn linh cốt tủy như xem xét tư tưởng của con người.) Người
đã sắp chọn các câu châm ngôn khác nào đinh đóng chặt, là do
một Ðấng Chăn Chiên mà truyền ra. Hãy xem Giăng 10:1-18: "Ta là
người chăn chiên hiền lành, người chăn hiền lành vì chiên mình
phó sự sống mình". Có nghĩa Chúa Giê-xu yêu thương con cái của
Ðức Chúa Trời, vì vậy Ngài xuống thế gian chăn, chăm sóc, dạy
dỗ. Và cuối cùng Ngài hy sinh mạng sống mình vì những kẻ Ngài đã
yêu, hầu cho họ được trắng án trước Tòa án phán xét cuối
cùng. (Khải Huyền 20:11-15)
Kết luận, người truyền đạo nhắc nhở
con cái Chúa: Khá kính sợ Ðức Chúa Trời và giữ các điều răn
Ngài. (Xuất 20:1-17; Luca 10:27)
"Trong Ðức Chúa Giê-xu có sự sống, sự sống là sự sáng.
Sự sáng soi trong nơi tối tăm, tối tăm chẳng hề nhận lấy sự
sáng." Và: "Nhưng hễ ai đã tin nhận Ngài, thì Ngài ban cho
quyền phép trở nên con cái Ðức Chúa Trời, là ban cho những kẻ
tin danh Ngài. Ấy là kẻ chẳng phải sanh bởi khí, huyết, hoặc bởi
tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Ðấng Tạo Hóa."
(Giăng 1:4,5,12). "Ðức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy
Ngài, thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy" .(Giăng
4:24 ).
Mời quí vị, quí bạn hãy đến tôn thờ Ngài và Chúa Cứu Thế
đang giang tay chờ đón quí vị. Xin chớ nên chậm trễ, kẻo mất dịp
tiện.
Mục sư Hưu trí DH, Texas
|