Thượng Ðế

   Triết gia hiện sinh Jean Paul Sartre của Pháp cho rằng: "Câu hỏi căn bản của các câu hỏi triết học là, tại sao có vạn vật trong vũ trụ mà đáng lẽ là không có gì hết?" Nhưng mà đối với nhà bác học lỗi lạc Albert Einstein thì ông bảo: "Không những là vũ trụ này có vạn vật, nhưng mà vạn vật nằm ở những vị thế rất là trật tự. Ðó là cái kỳ diệu của noù!"

   Tiến sĩ A. C. Morrison, Nguyên Viện Trưởng Viện Hàn Lâm Khoa Học New York, trong một bài tựa đề là "Vì Sao Một Khoa Học Gia Tin Nơi Thượng Ðế" viết:
"Khi dùng những định luật toán học vững vàng, chúng ta có thể chứng minh rằng vũ trụ đã được thiết kế và thực hiện bởi một Trí Năng Tuyệt Vời."
   Giả sử bạn lấy 10 đồng xu và viết trên đồng xu thứ nhất con số 1, viết trên đồng xu thứ hai con số 2, rồi cứ lần lượt đánh số như vậy cho đến đồng xu thứ mười. Xong rồi bạn bỏ cả 10 xu vào túi, xóc đều. Bấy giờ bạn thử bốc ra đồng xu có đánh số 1. Theo toán học xác suất thì tỉ lệ bạn bốc đúng đồng xu số 1 là 1/10. Bây giờ bạn bỏ cả 10 xu vào túi, xốc một lần nữa, rồi bạn thử cố gắng bốc ra tuần tự hai đồng xu, xu thứ nhất phải là xu có số 1, xu bốc ra lần thứ hai phải mang số 2. Bây giờ tỉ lệ thành công không phải là 1 trên 10 nữa, mà là 1/90. Lần thứ 3, bạn cố gắng bốc ra tuần tự 3 đồng xu, xu thứ nhất phải là xu có số 1, xu bốc ra lần thứ hai phải mang số 2, và xu bốc ra lần thứ ba phải mang số 3. Bây giờ tỉ lệ thành công là 1/720. Và nếu bạn muốn bốc ra lần lượt 10 đồng xu và phải đúng số thứ tự 1 đến 10, thì tỉ lệ lên đến 1/3,628,800.
   Cách tính này được gọi là toán học xác suất. Nếu áp dụng môn toán học xác suất để tìm xem có phải sự sống đã xuất hiện trên địa cầu cách ngẫu nhiên không, thì chúng ta thấy tỉ lệ chẳng những là một trên vài triệu, mà là một trên cả ngàn triệu. Nói cách khác, sự sống không thể nào xuất hiện cách ngẫu nhiên như một số người lầm tưởng, nhưng phải do một Ðấng khôn ngoan tuyệt đối sắp xếp một cách kỳ diệu.
   Thật vậy, quả đất xoay tròn trên trục nó với tốc độ 1.000 dặm Anh, tức là 1.609 ki-lô-mét mỗi giờ. Giả sử mỗi giờ trái đất chỉ xoay 100 dặm Anh, thì ngày và đêm của chúng ta sẽ dài gấp 10 lần, tức là sẽ có ngày 120 giờ và đêm 120 giờ đồng hồ. Lúc đó sức nóng ban ngày của mặt trời sẽ thiêu đốt tất cả các loài thảo mộc trên đất, và nếu còn mầm non nào sống sót thì trong đêm dài 120 giờ, các mầm đó sẽ bị chết cóng cả. Mà một khi không còn cây cối thảo mộc thì các loài sinh vật và loài người cũng không tồn tại được.
Mặt trời là nguồn sống của muôn loài vạn vật trên đất, và nhiệt độ của mặt trời là 10.000 độ F hay 3.800 độ C. Quả đất của chúng ta ở cách xa mặt trời vừa đủ để nguồn lửa bất diệt đó sưởi ấm chúng ta cách vừa phải. Nếu mặt trời chỉ chiếu xuống quả đất phân nửa sức sóng bình thường, chúng ta đều chết cóng. Ngược lại nếu mặt trời tăng sức nóng lên gấp rưỡi, chúng ta đều chết quay.
   Chiều nghiêng của quả đất với 23 độ, giúp chúng ta có bốn mùa tám tiết. Nếu trái đất không có chiều nghiêng đó, quả đất đã trở thành những lục địa băng giá mênh mông. Mặt trăng cũng ở cách quả đất với một khoảng cách vừa đúng mức, vì nếu mặt trăng lùi xa ra hay tiến lại gần quả đất hơn, thủy triều sẽ bị đảo lộn, mặt nước biển dâng lên và nhiều miền đại lục phải chìm ngập dưới làn nước mặn. Nếu vỏ quả đất chỉ dày hơn 3 mét, chúng ta sẽ không có oxygen (dưỡng khí), và các loài sinh vật phải chết hết. Ðây chỉ là một vài thí dụ trong hàng ngàn thí dụ khác chứng minh là không thể nào sự sống đã xuất hiện trên quả đất cách ngẫu nhiên và đang đuợc duy trì một cách ngẫu nhiên được.
   Quý vị có biết một nguyên tử nhỏ như thế nào không? Người ta bảo rằng nếu tất cả mọi người trên trái đất góp phần đếm số nguyên tử trong một giọt nước mà thôi, 5 tỉ người mỗi giây đếm một nguyên tử, thì phải mất 30.000 năm mới đếm hết số nguyên tử. Ðiều đó nói lên một vũ trụ không những nằm trong thứ tự mà Ðức Chúa Trời đã đặt để thôi, nhưng nó còn bao la tuyệt vời và những sự vật mà Ngài tạo nên thật vô số kể. Và khi con người nhìn đến vũ trụ đó, con người phải biết rằng có một Ðấng Tạo Hóa.
Ðối với người bình dân dù không am tường khoa học thì người ta vẫn công nhận có Trời trong mọi sự trên thế giới này. Ở đất nước chúng ta thì ý niệm này nhiều lắm. Khi chúng ta nói đến một vị vua anh minh cầm trong tay quyền sinh sát tất cả mọi người, chúng ta nói đó là "thiên tử", là con Trời. Cha mẹ, thầy cô giáo là người dạy chúng ta, thì chúng ta gọi là "thiên chức". Ai tài giỏi hơn người thì chúng ta gọi là "thiên tài". Ai hiểu biết hơn người chúng ta gọi là "thiên tứ" hay là "thiên bẩm". Mọi biến động trên thế giới này như bão, động đất, lụt chúng ta gọi là "thiên tai". Và khi gặp một người nào bị sét đánh thì chúng ta nói là "thiên lôi đả," hoặc là Trời đánh. Rồi nam nữ mà thành vợ chồng thì chúng ta bảo là "thiên duyên," căn duyên của Trời định. Còn chẳng may mà trắc trở thì cất tiếng than:
Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
Trời ơi, người ấy có buồn không?
Và ai chết thì chúng ta nói là "chầu Trời". Bí quá không biết trả lời sao thì nói "có Trời biết." Ý nghĩ Trời đầy dẫy hết trong văn chương Việt nam. Rồi chúng ta thường nghe nói "ai bảo Trời không có mắt!", hay là "chạy Trời không khỏi nắng!" hoặc là "Trời kêu ai nấy dạ".
Của Trời Trời lại lấy đi
Giương hai con mắt làm chi được Trời!
Dân tộc ta từ ngàn xưa là một dân tộc hữu thần, người mình tin có một Thượng Ðế chí cao. Niềm tin phản ảnh rõ ràng trong ngôn ngữ và trong văn chương Việt. Trong ngôn ngữ hàng ngày, người Việt nam chúng ta dùng nhiều danh từ để gọi Thượng Ðế. Có người gọi Ngài là Ông Trời, Ông Xanh, Ông Thiên, Ông Tạo, Ðấng Tạo Hoá, v.v... Ý nghĩ Thượng Ðế gắn liền của dân tộc. Ðể nói lên các hiện tượng thiên nhiên, chúng ta thường dùng chữ Trời: Trời nắng, Trời mưa, Trời bão, v.v...Ðể giải thích nguyên do của tai họa, chúng ta lại kêu: Trời hành, Trời hại, Trời trả báo.
Ở đời Trời hại mới hư,
Nào ai có hại cũng như sóng dồi.
Khi được may mắn, thời thịnh người mình nghĩ là được Trời thương, Trời giúp, Trời phù hộ, nhờ ơn Trời v.v... Ðể cầu ơn khẩn phước mọi người đều biết van vái Trời.
Lạy Trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp
Hay
Mỗi năm mỗi thắp đèn Trời,
Cầu cho cha mẹ ở đời với con.
  Vâng, con người Việt nam dầu bình dân đến đâu hoặc là một người có đầu óc khoa học đến đâu, đều có ý niệm về một Ðấng Tạo Hóa mà chúng ta không chối cãi được. Nơi loài người nói chung, còn có một yếu tố kỳ diệu hơn cả bản năng các loài vật, ấy là trí phán đoán. Chính nhờ trí phán đoán chúng ta có thể suy luận ra cái khả năng của bản thể chúng ta, và được như vậy là nhờ con người đã nhận được một tia sáng của Khối Trí Năng Vô Tận, là Thượng Ðế.
Quý vị có bao giờ thấy một con vật nào đó đang cắn xé nhau giành mồi, rồi tự nhiên một con vật lùi lại không chịu cắn xé nữa, tại vì nó suy nghĩ rằng: Không được, nếu mình cắn xé nhau vì một miếng mồi mà chết đi thì để lại tiếng xấu ở đời! Không một con vật nào có thể suy nghĩ như vậy, chỉ con người mới có sự suy nghĩ đó. Chưa ai tìm thấy bằng chứng có một con vật, dù khôn ngoan đến đâu, đã biết đếm từ 1 đến 10. Nơi loài vật, bản năng chúng giống như một nốt nhạc trên chiếc ống sáo xinh đẹp, nhưng bị hạn chế. Ngược lại, trí óc loài người lại chứa đựng tất cả các nốt nhạc của các loại nhạc khí trong một dàn nhạc đại hòa tấu. Thật là diệu kỳ! Và vì sự sáng tạo đôïc đáo mà con người khám phá ra nơi chính mình, nên con người biết mình không phải là một con vật hay là một cái máy.
   Hơn nữa, con người chúng ta biết hướng về chân thiện mỹ, biết hướng về chân lý tìm cái điều gì tốt nhất, biết hướng về cái đẹp nhất. Và dầu cho con người chúng ta có gian ác đến đâu, thì ít nhất mỗi con người chúng ta đều có một tiêu chuẩn đạo đức cho chính mình. Nhưng con vật không có tiêu chuẩn đạo đức, con vật chỉ có hành động theo bản năng tự nhiên của nó mà thôi.
   Lương tâm con người bày tỏ về Ðấng Tạo Hóa. Mặc dầu trên trần gian này có nhiều màu da, chủng tộc, nhiều nền văn hóa, nhiều tôn giáo, trình độ học vấn, v.v... Người ta cũng có lương tâm là ngọn đèn Ðấng Tạo Hóa đặt trong lòng. Mặc dù lương tâm con người đã bị lệch lạc về nhiều lý do, lương tâm đó cũng còn cắn rứt, cáo trách chúng ta khi chúng ta làm điều ác, và khích lệ, khuyến khích chúng ta khi chúng ta làm điều lành.
Thế thì, qua thiên nhiên, tức là chính sự tuyệt vời của vũ trụ và trong sự nhận thức, con người biết rằng vũ trụ này không phải tự nhiên mà có, nhưng được tạo dựng nên bởi một Ðấng Tạo Hóa là Thượng Ðế của muôn loài. Và "từ buổi sáng thế mọi sự đó vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên con người không thể chữa mình được" (Rô-ma 1:20). Như vậy là có một khoảng, một giai đoạn lịch sử nào đó tổ tiên của con người, hay là tổ tiên của dân tộc chúng ta nói riêng, "dầu biết Ðức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Ðức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không" (Rô-ma 1:21). Do đó ngày nay nhiều người không còn biết đến Chúa nên mới lâm vào tình trạng sa đọa, hư hỏng đến mức tồi tệ này.
   Bây giờ, người ta đang dùng một loại ma-tuý rất là mạnh, mạnh hơn loại ma-tuý mà thập niên 1960 nhóm Hippy họ dùng. Và khi ma-tuý phát triển thì sự gian ác cũng phát triển. Vì khi đến cơn ghiền thì người ta có thể làm bất cứ chuyện gì để đã cơn ghiền, ngay cả giết người. Và thế giới này không chỉ dừng lại ở đó. Ngày nay, báo chí đăng thảm trạng thế giới là có quá nhiều trẻ sơ sinh bị hư não bộ, bị tàn phế, vì cha mẹ chúng nó đã nghiện ma-tuý và ăn ở với nhau có con. Ðó là thế hệ tương lai của thế giới này! Biết bao nhiêu người bị tan gia bại sản vì một người trong gia đình bị cơn ghiền. Thêm vào đó, một thống kê cho biết là tội ác ngày càng gia tăng, không những ở người lớn thôi mà ngay cả trong vòng các thiếu niên nữa.
Thập niên 1960 chủ nghĩa hiện sinh ảnh hưởng trên toàn thế giới, và thanh niên, thiếu niên của phong trào Hippy sống với quan niệm: Tôi không cần biết đến thế hệ tương lai, tôi chỉ biết tôi, thế hệ này mà thôi! Cho nên những người thanh niên vào thập niên 1960 họ hút ma-tuý, họ làm tình trước hôn nhân, họ bất kể bất cứ giá trị đạo đức nào. Và bây giờ, hơn 30 năm sau, các nhà đạo đức trên thế giới, các nhà lãnh đạo trên thế giới kinh hoàng về những hậu quả của phong trào đó.
   Hậu quả mà nhân loại ngày hôm nay chịu đựng là hậu quả của tổ tiên đã lưu truyền lại, là một giai đoạn nào đó trong lịch sử tổ tiên của chúng ta đã đi lùi thụt xa Ðức Chúa Trời, đã thờ ơ với Ðức Chúa Trời. Sự lùi thụt của tổ tiên chúng ta ngày xưa đã làm cho ngày hôm nay nhiều người trong chúng ta không tin biết đến Ðức Chúa Trời. Và rồi sự thờ ơ trong chúng ta ngày hôm nay để rồi chúng ta và con cái của chúng ta sẽ nhận lấy hậu quả. Hễ gieo gì rồi thì sẽ gặt nấy, không tránh khỏi được.
   Mục đích của đời người là gì? Mục đích của đời người là tôn vinh Ðức Chúa Trời và tạ ơn Ngài mãi mãi. Nếu con người đi sai cái mục đích đó là lạc hết. Nếu đời sống của chúng ta chỉ coi giá trị của vật chất là trọng mà quên giá trị tâm linh. Nếu đời sống của chúng ta chỉ coi tiền bạc, nhà cửa, bằng cấp là quan trọng nhất, thì rồi sẽ có một lúc chúng ta ngồi nuối tiếc. Sẽ có một lúc chúng ta thấy rằng tiền bạc, nhà cửa, bằng cấp không phải là tất cả. Sẽ có một lúc chúng ta thấy rằng địa vị cùng tất cả những tiện nghi khác không phải là điều chúng ta cần nhất trong cuộc sống, mà điều cần nhất là cần một niềm tin để chúng ta nương dựa khi chúng ta không còn chỗ để nương dựa.
     Con người không phải là một cái máy. Con người không phải là một con sinh vật không biết suy tư. Con người biết suy tư. Con người không phải chỉ có xác thịt này thôi. Con người còn có tinh thần và tâm linh nữa. Tinh thần để giao cảm với nhau. Tâm linh để giao cảm với Thượng Ðế. Trong con người có ba phần rõ rệt, như vậy, con người tìm được sự cảm thông với người và người, và giữa người với Thượng Ðế. Vật chất là những vật vô tri, nó không thể đối thoại lại được với mình. Chúng ta chỉ đối thoại được với tha nhân và với Thượng Ðế mà thôi. Vậy nên, hãy trở về với Thượng Ðế, là Ðấng đã tạo nên các tầng trời cao kia, cùng dưới mặt đất nầy và chính con người chúng ta nữa. Trở về với Thượng Ðế tức là trở về lại nhà Cha mà lâu nay vì lạc lối giữa thế gian nên tổ tiên của chúng ta đã một thời gian sao lãng, để đặt niềm tin nơi Cứu Chúa Giê-xu, vì lời Ngài phán: "Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha" (Giăng 14:6). Khi đặt niềm tin vào Chúa Cứu Thế Giê-xu, tức là Thượng Ðế Ngôi Hai, thì chẳng những linh hồn của chúng ta sẽ được cứu rỗi ở mai sau không thôi, mà còn được niềm hy vọng sống vui tươi ngay bây giờ nữa! Amen.

                   Bà Ức Chiến Thắng