HỘI-THÁNH

Con người tùy theo giàu-nghèo, xã-hội liệt họ vào giai-cấp thượng-lưu, trung-lưu hay hạ lưu.
Con người tùy theo đạo-đức, xã-hội xếp họ vào đẳng-cấp tiểu-nhân, quân-tử hay thánh nhân.
Những người cả đời chỉ biết chú tâm vào tiền-tài, danh lợi. Dám dùng mọi phương-tiện miễn đạt đến cứu-cánh tất phải là phường tiểu-nhân.
Những vị quyết tâm "làm người". Trau-dồi phần tâm, trọng nhân, trọng nghĩa. Tiền-tài danh-lợi cần đấy, nhưng không thể vì tiền-tài, danh-lợi mà thất tâm, vong nghĩa. Xin được xếp quý vị vào hàng quân-tử.
Nhưng những vị được xã-hội tôn lên hàng thánh nhân thì quả lắm nhiêu-khê. Có vị được "tôn" nhưng không dám nhận. Có vị được "phong thánh", hầu hết sau khi chết, theo lễ-nghi trong quan-điểm và đức-tin của một số người.
Thánh nhân theo quan-điểm Kinh-thánh cũng khác với thánh nhân theo quan-điểm Tứ-Thư, Ngũ-Kinh.
Tử-Cống hỏi Ðức Khổng-Tử: 
- Thầy là Thánh nhân rồi phải không? Ðức Khổng-Tử đáp: 
- Ta chẳng dám nhận là thánh-nhân. Ta chỉ được cái làm lành, học đạo mãi mà không chán, dạy đời mà không mệt thế thôi. Tử-Cống thưa: 
- Thầy làm lành, học đạo mãi mà không chán, tức là trí. Dạy đời luôn mà không mệt tức là nhân. Ðủ cả trí và nhân thì thầy là thánh nhân rồi.
Tề-cảnh-Công hỏi Tử-Cống: 
- Khổng-Tử có phải là hiền nhân không? Tử-Cống đáp:
- Ngài là thánh-nhân. Tề-cảnh-Công hỏi: 
- Sự thánh-thiện của Ngài ra sao? Tử-Cống đáp:
- Tôi không biết. Tề-cảnh-Công hỏi:
- Ông không biết sao dám nói Khổng-Tử là thánh-nhân? Tử-Cống đáp:
- Tôi suốt đời đội trời, mà chẳng biết trời cao bao nhiêu; suốt đời đạp đất, mà chẳng biết đất dày bao nhiêu. Tôi theo Ngài Khổng-Tử như kẻ khát nước đem gáo ra sông, ra biển múc nước uống. Uống no bụng rồi đi, nhưng nào biết sông biển sâu bao nhiêu.
Ðức Khổng-Tử biết rõ mình không phải là thánh nhân. Tử-Cống công-nhận Ðức Khổng-Tử là thánh nhân để tỏ ra mình là người tinh mắt trong thiên-hạ và sự "theo" Ðức Khổng-Tử là chính-đáng.
Theo Tứ-Thư, Ngũ-Kinh, thánh-nhân bạt-thiệp, siêu-quần, là người thông-minh, duệ-trí, đức-hạnh tuyệt-vời, hành-sự theo ý Trời.
Kinh Dịch viết: Thánh nhân đức-độ sánh với đất trời, sáng-láng như hai vầng nhật-nguyệt, biến thông tự bốn mùa, ảnh-hưởng người in tựa thần minh.
Trung-Dung viết: Thánh nhân có cuộc đời phối-kết với Thượng-Ðế.
Chu-Hy nói: Thánh nhân là kiệt-tác của Tạo-hóa, tinh-hoa của nhân-loại.
Luận-Ngữ viết: Thánh nhân chính là mẫu người lý-tưởng trong nhân-loại. là tinh-hoa nhân-loại, là người thể-hiện được toàn thiện.
Lịch-sử Trung-hoa trải qua các đời chỉ có 14 vị được tôn là thánh nhân: Phục-Hy, Thần-Nông, Hoàng-Ðế, Nghiêu, Thuấn, Vũ. Thành-Thang, Y-Doãn, Trí-Can, Văn-Vương, Vũ-Vương, Châu-Công, Liễu-hạ-Huệ và Khổng-phu-Tử.

Việt-Nam ta chỉ có mỗi Ðức Thánh Trần-hưng-Ðạo. Theo lịch-sử nước ta, Ðức Thánh Trần-hưng-Ðạo có tên là Trần-quốc-Tuấn, thuở nhỏ rất thông-minh, lớn lên văn-võ toàn tài, đã hai lần đánh bật quân Nguyên xâm-lăng, được vua tôn-kính phong là Thái-sư Thượng-phu Hưng-Ðạo Vương. Nhưng sau Ngài được tôn lên hàng thánh.
Theo chuyện cổ-tích: Khi tướng nhà Nguyên kéo quân sang lần thứ hai có tỳ-tướng tên là Bá-Linh tức Phạm-Nhan có nhiều yêu-thuật. Trần-hưng-Ðạo lập cửa cung phá được, bắt sống Phạm-Nhan. Quân-sĩ dùng gươm chém thế nào Phạm-Nhan cũng không chết. Chặt đầu Phạm-Nhan, đầu khác lại hiện lên. Trần-hưng-Ðạo phải dùng "thần kiếm" mới giết được. Phạm-Nhan chết thường hiện thành quỷ về phá đàn bà con gái. Dân chúng gọi là tà Phạm-Nhan. Muốn trừ quỷ này phải nhờ đến uy-linh Ðức Trần-hưng-Ðạo. Ðức Trần-hưng-Ðạo đại vương trở thành vị thánh trừ tà.
Các nhà thần học không bao giờ dùng chữ "saint" - thánh-nhân để gọi các vị thánh-nhân Trung-Hoa hay Việt-Nam. Thánh-nhân theo quan-điểm Tứ-Thư, Ngũ-Kinh được dịch là "sage" - Người khôn-ngoan, tài-đức phi-thường.
Cơ-đốc nhân - Chúng ta còn lạ gì. Họ đâu phải là những người khôn-ngoan, tài-đức phi-thường. Trái lại, có khi họ còn là những người bê-bối, có một đời sống "dẫu người ngoại đạo cũng chẳng có giống như vậy" (I Cô-rinh-tô 5:1). Thế mà họ được gọi là "thánh-đồ" (I Cô-rinh-tô 1:2), là thánh-nhân, là "saint" thì lạ thật?

Trung-Dung viết: Thánh-nhân có cuộc đời phối-kết với Thượng-Ðế. Quan-điểm của Trung-Dung rất gần với quan-điểm của Kinh-thánh.
Quan-điểm về người thánh theo Kinh-thánh cũng rất khác quan-điểm về người thánh của giáo-hội Công-giáo La-mã. Vào năm 1960, Jacques Douillet đã viết một cuốn sách nhan-đề là: "Qu'est-ce Qu'un Saint" (Thế nào là một thánh-nhân). Sách cũng dẫn-giải khác biệt hiền nhân và thánh nhân. Hiền nhân là người biết trau-dồi tâm-thần mình, giống như thánh-nhân theo Tứ-Kinh, Ngũ-thư. Còn thánh nhân phải là người quên mình vì Chúa. Từ năm 1534, Giáo-hội Công-giáo La-mã chỉ công-nhận những vị thánh đã được giáo-hội tấn-phong. Năm 1634, Giáo-hoàng Urbain VIII ra sắc-chỉ chứng-nhận những vị đã được công-chúng tôn-xưng là thánh-nhân trước năm 1534. Những vị đã tuẫn-tiết vì Chúa và Giáo-hội cũng được kể là thánh-nhân. Nhứt là những vị đã được ghi trong Tuẫn-tiết mục (Martyrology) của Jérome (thế-kỷ thứ V), của Bède (thế-kỷ thứ VIII), của Florus (thế-kỷ thứ IX), của Adon (thế-kỷ thứ XI), của Usuard (thế-kỷ thứ XIII), và của Giáo-hội La-mã (thế-kỷ thứ XV). Từ thế-kỷ thứ XV đến nay rất nhiều người đã được Giáo-hội La-mã phong thánh, trong số đó có cả người Việt-Nam. Giáo-hội không phong thánh cho vị nào đang sống, ngoại trừ Ðức Giáo-hoàng được xưng tụng là Ðức Thánh Cha.

Trong muôn loài vạn vật chỉ có con người có ý-niệm về thánh và sự thánh thuộc về linh-giới - Thần-thánh. Kinh-thánh khẳng-định chỉ có "Ðức Chúa Trời là Ðấng thánh"(Ê-sai 5:16). "Ðức Chúa Trời các ngươi vốn là thánh" (Lê-vi ký 19:2), và bất cứ cái gì thuộc về Ðức Chúa Trời đều được thánh hóa. Khi Ðức Chúa Trời chọn Áp-ra-ham, để từ Áp-ra-ham, Ngài tạo lập một dân thuộc về Ngài, và dân Y-sơ-ra-ên được gọi là dân thánh. "Vì ngươi là một dân thánh cho Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi; Ngài đã chọn ngươi trong muôn dân trên đất, đặng làm một dân thuộc riêng về Ngài" (Phục-truyền Luật-lệ ký 7:6). Ngày được biệt riêng ra cho Chúa được gọi là ngày thánh (Xuất Ê-díp-tô ký 35:2). Nơi Chúa hiện-diện được gọi là đất thánh (Xuất Ê-díp tô ký 3:5). Nơi thờ phượng Chúa được gọi là "đền thánh" (Thi-thiên 5:7).
Trong đời Cựu-ước, Hội-thánh là "hội người công-bình" (Thi-thiên 1:5); "Hội các thánh Ngài" (Thi-thiên 149:1); "Hội của dân Ðức Chúa Trời" (Các Quan-xét 20:2)
Khi Ðức Chúa Trời bằng lòng đưa Ngôi Hai vào trần-thế, qua lòng trinh-nữ Ma-ri đặng làm Cứu Chúa cho cả nhân-loại. Thì Ðức Chúa Trời đã chấp-nhận những người bằng lòng tiếp-nhận Ðức Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình, là một dân thuộc riêng về Ngài, một dân thánh như lời Kinh-thánh minh-định: "Ngài đã chọn chúng ta trong Ðấng Christ đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Ðức Chúa Trời" (Ê-phê-sô 1:4). Cơ-đốc nhân là "dân thánh, là dân thuộc về Ðức Chúa Trời" (I Phi-e-rơ 2:9).
Cơ-đốc nhân là người thánh không căn-cứ trên hành-vi thánh-thiện. Không căn-cứ trên tâm-trí thánh-thiện, song căn-cứ trên sự tái-sinh do quyền-năng Thánh-Linh Ðức Chúa Trời. Bởi sự tái-sinh, Cơ-đốc nhân có "hột giống Ðức Chúa Trời ở trong người" (I Giăng 3:9). Ðây là một sự mầu-nhiệm. Sự mầu-nhiệm tất nhiên không thể luận-lý, nhưng phải tin. Cơ-đốc nhân được tái-sinh, được danh phận làm con Ðức Chúa Trời, có Ðức Thánh-Linh ngự trong lòng khiến chúng ta gọi Ðức Chúa Trời: "A-ba, Cha" (Ga-la-ti 4:6).
Khi xưa Ðức Chúa Trời đã hiện ra cùng Môi-se ở nơi bụi gai đang cháy mà không tàn. Môi-se toan bước lại xem. Ðức Chúa Trời bèn phán cùng Môi-se: "Hãy cởi giày ngươi ra, vì chỗ ngươi đang đứng là đất thánh" (Xuất Ê-díp-tô ký 3:5). Sự hiện-diện của Ngài đã khiến cho mảnh đất cằn-cỗi, dơ-dáy, giống như những mảnh đất khác trở nên "đất thánh". Huống chi con người, dầu ở trong bất cứ trạng-huống nào, mà đã tin-nhận Ðức Chúa Jêsus Christ làm Cứu Chúa của mình, được tái-sinh, có Ðức Thánh-Linh ngự-trị tất phải là người thánh như lời Kinh-thánh chép: "Anh em há chẳng biết mình là đền thờ của Ðức Chúa Trời, và Thánh-Linh Ðức Chúa Trời ở trong anh em sao? .... Vì đền thờ của Ðức Chúa Trời là thánh, mà chính anh em là đền thờ" (I Cô-rinh-tô 3:16-17).
Như vậy thánh nhân (saint) không phải là người có đời sống phối-kết với Thượng-Ðế, không phải là người được tấn-phong bởi giáo-hội. Theo lời Kinh-thánh, Cơ-đốc nhân là người thánh vì:

1. Cơ-đốc nhân - "Ngài đã chọn chúng ta trong Ðấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Ðức Chúa Trời" (Ê-phê-sô 1:4).
2. Cơ-đốc nhân "mặc lấy người mới, tức là người đã được dựng nên giống như Ðức Chúa Trời, trong sự công-bình và sự thánh-sạch của chân-lý" (Ê-phê-sô 4:24).
3. Cơ-đốc nhân hiệp lại là Hội-thánh, "đặng tỏ ra Hội-thánh đầy vinh-hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh-sạch không chỗ trách được trước mặt Ngài" (Ê-phê-sô 5:27).

Hội thánh là hội của Cơ-đốc nhân. Chúa Jêsus phán với người thuộc về Ngài: "Vì nơi nào có hai ba người nhơn danh ta nhóm nhau lại, thì ta ở giữa họ" (Ma-thi-ơ 18:20). Nơi đó là Hội-thánh.

Mục sư Phan Thanh Bình