Con Thế Thân

HLH

 

         Cuối tận chân trời lưa thưa vài áng mây lơ lững trôi như đang rong chơi nhàn rỗi.  Ánh Thái Dương vô tình để sót lại vài tia nắng hoàng hôn ôm chầm lấy những cụm mây đen tạo nên một vùng trời tim tím quạnh hiu.  Màn đêm buông phủ xuống một làn sương lạnh khiến cho thành phố Jerusalem đượm thêm vẻ thâm u cô tịch.  Qua khung cửa sổ nhỏ có song sắt, một đôi mắt đăm chiêu thả hồn về tận cuối chân trời như gợi nhớ lại những kỷ niệm xa xôi thầm kín. 

        "Lão Ba, ông lại có tâm sự à?"  Câu hỏi của người bạn tù khiến Ba-ra-ba trở về với thực tại.  Lão không buồn quay lại, chỉ khẻ gật đầu ra dấu.   "Tâm sự cái quái gì? Mai đây là chết cả đám mà bây giờ còn ở đây tâm với sự." Một tên tù mặt thẹo lên tiếng mai mĩa.  Thân hình bất động, lão Ba chỉ quay đầu lại nhìn trừng về hướng người vừa mới mĩa mai. 

        Ba-ra-ba bị nhốt trong thạch thất dơ bẩn này với hai tên trộm cướp.  Một tên là Anh-nhu, vốn tính hiền hoà và thương người; vì hoàn cảnh éo le đã đưa hắn đến con đường trộm cướp. Anh-nhu lỡ tay xô tên lính La mã té xuống sườn đồi mà chết trong cuộc đuổi bắt, nên hắn phải mang án tử hình.  Ranh-nô, tên mặt thẹo,  là một con người ngang ngược, bạo tàn.  Hắn chuyên hiếp đáp, cướp ép dân nghèo và khách lạ từ phương xa đến.  Có lần hắn ra tay giết chết một người khách buôn vì kháng cự lại khi hắn đánh cướp gói hàng hóa của anh ta.  Vì sợ hắn trả thù nên không ai dám lên án kiện cáo hắn cả.  Lần này hắn muốn làm ăn lớn nên đến đánh cướp nhà quan thâu thuế, và vì tánh hống hách nên hắn chém vị quan thâu thuế bị thương gần mất mạng.  Toán lính La-mã phải vất vả lắm mới bắt được hắn nhốt vào đây.

        Một cơn gió lùa qua khung cửa sổ lay nhẹ rung rinh màng nhện nơi góc trần của thạch thất làm cho chú nhện giật mình vụt biến vào bóng tối.  Trong phòng giam chỉ có một chút ánh sáng lờ mờ từ ngọn đuốc treo trên tường bên ngoài cửa ngục.  Hai tên lính gác với giáo nhọn trong tay đứng im lìm như hai pho tượng đá canh giữ bên ngoài khung cửa.  Ánh lửa nhấp nhô trên ngọn đuốc thu hút thần trí của Ba-ra-ba; lão nhắm mắt cố tìm lại trong tiềm thức những kỷ niệm xa xưa thương mến   Dưới ngọn đèn dầu ô-li-ve, cậu bé Ba-ra-ba say sưa nằm nghe cha kể chuyện Ðức Chúa Trời dùng lãnh tụ Môi-se để giải phóng dân sự Y-sơ-ra-ên.  Ðêm nào cũng vậy, sau giờ ăn tối, mẹ của cậu bé dọn dẹp còn cậu thì quấn quít bên cha để nghe dạy lịch sử và truyền thống dân tộc.  Cha làm chức tế lễ, cả ngày bận rộn tại đền thờ; chiều tối ông dành trọn thời giờ còn lại cho vợ cho con.  Ông rất kính mến Ðức Chúa Trời và luôn răn dạy vợ con biết kính Chúa yêu người.  Cậu bé thường được cùng cha đem chia phần ăn mà ông nhận được tại đền thờ cho những bà goá-phụ và những trẻ mồ côi.  Cậu bé thán phục và quí mến cha mình lắm.  Trong cuộc đời thơ trẻ cậu bé chưa bao giờ thấy Ðức Chúa Trời hình dáng ra sao; nhưng theo ý cậu, Ðức Chúa Trời chắc giống cha mình lắm.  Có lần cậu bị cha rầy vì ý tưởng thơ ngây của cậu.  "Con không được vô phép, Ðức Chúa Trời tạo dựng nên chúng ta theo hình Ngài thì chúng ta giống Ngài chứ sao Ngài lại giống chúng ta!"   Có tiếng bước chân rập ràng vững chắc bên ngoài làm Ranh-nô và Anh-nhu giật mình thức giấc.  Lão Ba khẻ trấn an hai người đồng lao: "Bọn lính đổi phiên gác, đã đến canh ba rồi!"  Ranh-nô buông một tiếng thô tục để rủa bọn lính, rồi chẳng bao lâu hắn lại ngáy đều trong say đắm.  Anh-nhu chỉ nhẹ cựa mình rồi lại ngủ vùi trong giấc mộng.

        Bên ngoài, bầu trời thật trong, không một chút mây và sao thật đầy.  Ðêm mà cha của lão qua đời, trời cũng trong và cũng nhiều sao như đêm nay   Lúc Ba-ra-ba vừa mới lên bảy tuổi, cha của cậu bé vướng phải chứng bệnh mà đến cả các thầy thuốc cũng không hiểu rõ.  Bán sắp hết tài sản trong nhà, tìm đến không biết bao nhiêu thầy thuốc mà bệnh tình càng thêm nặng.  Ba-ra-ba đến với Ðức Chúa Trời mà Cha  thờ kính để kêu cầu.  Cậu bé khẩn thiết nài xin, dốc tâm tình khấn nguyện nhưng Ðức Chúa Trời như ngoảnh mặt làm ngơ; cha cậu bé qua đời sau những tháng ngày dài chống chịu những cơn đau phá dần thể xác, để lại vợ hiền và con trẻ không người chăm sóc.  Niềm tin của Ba-ra-ba bị tan vỡ trước cảnh trạng sầu bi của mình; Cậu bé  oán hận Ðức Chúa Trời vì đã không cứu người đầy tớ trung tín, suốt đời tận tụy kính mến phục sự Ngài. Ba-ra-ba trách Ðức Chúa Trời vì đã không đoái hoài đến lời nài van kêu xin của mình để rồi mẹ con cậu bé phải trở thành mẹ goá con côi cho người đời khinh bạc.

        Trong lúc sinh thời, cha của Ba-ra-ba thương mến chăm lo cho những quả phụ và trẻ mồ côi bao nhiêu thì sau khi ông qua đời mẹ con của cậu bị người ta bạc đãi bấy nhiêu, nhất là những nhà lãnh đạo tôn giáo và những thầy tế lễ khác.  Những lời dạy của Ðức Chúa Trời mà cha thường nhắc: "Kính Chúa yêu người", "thương khách lạ, kẻ mồ côi và người goá bụa", chẳng lẽ những người này không biết đến sao?  Thế mà họ đuổi xua và dùng những lời lẽ thậm tệ khi mẹ con cậu đến với những người thân quen cũ của cha mong nương nhờ giúp đỡ.  Sáu tháng sau khi cha lão mất thì mẹ cũng qua đời vì hao mòn sức khoẻ, vì quá lo lắng cho con thơ, vì nhớ nhung người chồng thương mến.  Niềm an ủi cuối cùng của Ba-ra-ba cũng bị cướp khỏi tầm tay, một mình bơ vơ, lạc loài trong thế giới thiếu tình thương nhân sinh đồng loại.  Bắt đầu từ đó, cảm xúc của Ba-ra-ba trở thành chai đá. Thượng Ðế đã từ bỏ và không còn thương nên niềm tin nơi Chúa đã trở thành hận.  Xã hội đã đuổi xua hất hủi nên Ba-ra-ba càng ganh ghét nhân loại, nhất là những người có chức phận trong chính quyền, trong đạo giáo.

        Từ xa vọng lại tiếng gà gáy phá tan sự im lặng của màn đêm.  Ðặt lưng xuống nền thạch thất, cơn lạnh của gạch đá làm Ba-ra-ba phải rùng mình.  Lão chẳng còn sống được bao lâu nữa; sáng mai này lão phải nhận án tử hình trên cây gỗ vì tội giết người và tội làm loạn chống lại triều đình.  Lão biết án của mình xứng với việc mình làm; lão đã từng ngang dọc với đời, chẵng sợ ai và cái chết đối với lão cũng chẳng nghĩa lý gì, nhưng sao hôm nay chuẩn bị đối diện với Thượng Ðế lão cảm thấy khiếp kinh lo sợ.  Lão nghĩ đến mẹ đến cha, đến những sự dặn- dò nhắn-nhủ kính Chúa yêu người; nhớ đến những lúc cùng cha mẹ đến đền thờ để dâng những của lễ sinh tế cho Ðức Chúa Trời.  Những kỷ niệm, những hình ảnh thân thương hoà với những lo sợ đưa Ba-ra-ba đi vào giấc ngủ.

        "Ba-ra-ba! Ba-ra-ba! Ðóng đinh hắn trên cây thập tự! Ðóng đinh hắn trên cây thập tự!"   Trong giấc ngủ mơ màng, tiếng gào thét của đoàn dân làm lão Ba giật mình bừng tỉnh.  Lão chồm mình ngồi dậy, nét mặt thất kinh như vừa thoát qua cơn ác mộng.  "Thật không ngờ lão Ba lại bị dân chúng thù ghét đến như vậy; ta cứ tưởng ta là ác độc nhất xứ đó chứ!" Ranh-nô bật lên giọng cười chua chát.  Mặt trời đã lên cao, ánh nắng ban mai chiếu rọi ánh sáng chứa chan vào khung cửa sổ.  Tiếng ồn ào của đoàn dân đông từ sân đình quan tổng trấn Phi-lát len lỏi theo hơi gió lùa qua ngạch cửa, qua khe đá đem vào lòng Ba-ra-ba nỗi bồn chồn lo sợ.

        Tiếng chân người từ ngoài hành lang mỗi lúc một gần, có tiếng chìa khoá đưa vào ổ khoá, cánh cửa thạch thất chợt mở toang, một toán lính la-mã tiến vào điệu Ba-ra-ba ra.  Vẻ mặt sắt đá, chẳng ai nói một lời, bọn chúng điệu lão ra qua nhiều hành lang dài uốn khúc, cuối cùng lão chợt thấy mình đang đứng trước mặt quan tổng trấn Phi-lát.  Một tên lính dùng cán dáo đánh vào phía sau gối và một tên khác ấn mạnh trên vai khiến cho Ba-ra-ba té quỵ xuống trước mặt quan.  "Ngươi được miễn tội chết," nhìn thẳng vào mắt lão Ba quan tổng trấn tuyên phán, "có người mang thập hình thế cho ngươi!" nói xong quan đưa tay chỉ về hướng nhục trường.  Chưa kịp nhìn rõ mặt người đang chịu nhục hình thì Ba-ra-ba đã bị các tên lính lôi kéo ra ngoài sân và bị xô chúi vào giữa đoàn dân đông.  Dân chúng chẳng đếm xỉa chi đến Ba-ra-ba, họ chỉ tách ra hai bên để khỏi bị Ba-ra-ba té xô vào mình rồi họ lại bu vào gần nhục trường hơn để xem tên tử tội.  Nhơn lúc chẳng ai để ý đến, Ba-ra-ba lẻn ra khỏi đoàn dân rồi biến đi mất dạng.

        Bên ngoài thành Jê-ru-sa-lem, trên ngọn đồi nghĩa trang, cạnh hai bia mộ, có một lão già ngồi trầm tư tưởng nhớ.  Nắng sớm mong manh mơn trớn vuốt nhẹ trên mái tóc bạc điểm hoa râm của lão.  Ðôi mắt hao gầy tràn dâng ngấn lệ chứa đầy buồn tủi; ánh thái dương lấp lánh trong mắt lão như ánh bình minh nhảy nhót trên mặt biển Ga-li-lê vào buổi sáng với những cơn gió thoảng.  "Thưa Cha, Thưa Mẹ," lão già khẽ cất tiếng mà mắt đăm chiêu nhìn lên vùng trời xanh thẳm.  "Con đã không gìn giữ những sự dạy dỗ của Cha Mẹ.  Con đã oán giận và phạm tội cùng Ðức Chúa Trời.  Con đã bị án tử hình xứng với việc con làm, nhưng có người mang án thế chỗ cho con.  Người ta nói rằng người này tự xưng mình là Con Ðức Chúa Trời, là đấng Mê-si mà Cha Mẹ từng dạy con khi con còn nhỏ bé."  Lão ngưng một giây lát rồi lại tiếp: "Nếu thật đây là đấng Mê-si thì chẳng những con khỏi chết hôm nay mà tội lỗi con cũng được Ðức Chúa Trời tha thứ vì Con Thế Thân này thật là xứng đáng."  Một ý nghĩ loé lên trong đầu lão; phải rồi, lão phải trở lại để đối diện, để nhìn cho tận mặt ân nhân của lão.  Lão cần phải biết rõ con người này thật ra là ai.  Lão đứng dậy, phóng mình thật nhanh về hướng  đồi sọ.

        Ba-ra-ba tiến nhanh đến hướng những cây thập tự.  Khi lão còn cách khoảng xa thì lão kinh nghiệm một biến cố kỳ lạ.  Trời đang giữa trưa mà mây đen kéo đến làm tối tăm tất cả chung quanh, gió cuộn cát bụi mịt mù, và đất rúng động kinh khủng lắm.   Dân chúng chạy đi tán loạn khắp nơí, người kêu la inh ỏi.  Thời gian dường như dừng lại, không khí nặng nề buông trùm xuống cả không gian khiến lão Ba có cảm giác rợn người tưởng chừng như đang hiện diện trong uy quyền của Thần Chết.  Ba-ra-ba cố lần mò đến gần nơi chân thập tự; vừa thoáng thấy Ba-ra-ba, Ranh-nô liền thét lên " Lão Ba, mau cứu chúng tôi với!"  Mấy tên lính La mã vội chĩa những mũi giáo nhọn về hướng Ba-ra-ba để phòng thủ và dằn mặt.  Ba-ra-ba lui lại vài bước để tỏ ra mình không có ý gian.  Ranh-nô chửi rủa Ba-ra-ba không ngớt lời.  Anh-nhu bị treo trên cây thập tự phía bên kia gắng gượng gọi: "Lão Ba,  qua đây."  Ba-ra-ba tiến qua phía Anh-nhu; hắn trông thật đau đớn, khổ sở, kiệt quệ hơn Ranh-nô rất nhiều.  Lão cảm thấy thương cho Anh-nhu lắm.  "Lão Ba," Anh-nhu thổn thển, "Người này thật là  Con Ðức Chúa Trời!  Người chẳng có tội " Anh-nhu phải nhịn cơn đau, nhấc người lên để thở nên lời nói của hắn bị đứt quãng " lỗi chi mà phải  chịu chết nhục nhã  như thế này."  Anh-nhu lại nâng người lên thở rồi nói tiếp: "Ngài chính là đấng Mê-si,  Ngài hứa với tôi  là tôi sẽ được ở với Ngài  trong nước Ba-ra-đi." 

Mấy tên lính La Mã đến lấy cán giáo xô lão Ba ra xa rồi một tên trong bọn họ đánh gãy hai xương ống quyễn của Ranh-nô; hắn buông ra tiếng phạm thượng lẫn tiếng gào thét thảm thương khiến khung cảnh thảm não càng thêm rùng rợn.  Khi đến bên người mang tên là Jêsus thì tên lính không cần phải làm vậy vì người ấy đã chết rồi.  Tên lính lấy ngọn giáo đâm sâu vào hông của Jêsus để cho người thật chết chắc.     Anh-nhu thật là tội nghiệp, hắn yếu đuối hơn Ranh-nô nên khi bị đánh gãy xương ống quyển là hắn quỵ người xuống, cố gượng kéo người lên bằng hai cây đinh đóng nơi cườm tay để nâng đầu lên thở nhưng đã quá đuối sức rồi.  Anh-nhu chỉ gượng lắm để thở khè được vài hơi ngắn, và vì không đủ hơi vào buồng phổi nên hắn trợn tròng mắt lên, thân hình vẫy giật kinh bạo trước khi trúc hơi thở sau cùng.  Lão Ba không nở lòng nhìn cái chết của Ranh-nô nên ngoảnh mặt đi để chỉ nghe tiếng vùng vẫy, tiếng nghẹn rên, tiếng khè khển, tiếng thở ra và rồi im lặng của người bạn tử tội của mình.   Lão Ba không khỏi mường tượng chính mình xém phải vật lộn với Tử Thần trên cây thập tự giá.

        Ba-ra-ba bước đến gần chân thập tự giá chính giữa Ranh-nô và Anh-nhu, nơi đáng lý ra là nơi treo thân của lão.  Trên thập tự gíá một thân xác nhưng không phải là của Ba-ra-ba, nhưng của một con người mình đầy thương tích.  Trên đầu gục nghiêng của Con Người mang án là chiếc mão gai, và bên trên có tấm bảng đề "Jêsus, người Na-xa-rét, Vua dân Giu-đa."  Thân mình của nạn nhân bầm tím những lằn roi độc tàn; bên hông người có vết giáo đâm vẫn còn đang rỉ xuống một giòng máu thắm tươi nhỏ đọng nơi chân thập giá.  Nhìn đến nét mặt vô sinh và thân hình bất động của Jêsus mà lòng của Ba-ra-ba tan chảy ra, lão quỳ xuống nơi chân thập tự mà nước mắt trào tuôn: "Chúa ơi, Ngài đã chết thế cho con; Ngài là Chiên Con của Ðức Chúa Trời, Ngài là Con Thế Thân trên bàn thờ để làm sinh tế chuộc tội cho con.  Con nhận ra rồi, Ngài chính là Ðấng Mê-si phải đến mà cha con có từng dạy.  Vua dân Giu-đa ôi, xin Chúa tiếp nhận con trở về với tình thương yêu tái tạo.  Xin Ngài tha thứ tội lỗi cho con.  Con xin mời Ngài làm vua cai quản đời con; xin Ngài làm Chúa của lòng này."  Tiếng khóc nghẹn ngào nức nở của lão Ba vang lên làm vang động cả một vùng đồi và rồi tấm lòng đau thương thống hối đó đã trở thành âm điệu du dương và mùi hương quí giá bay lên đến tận ngôi Ân Ðiển của Ðức Chúa Trời cao cả.

        Ánh thái dương như cố chiếu rọi một vài tia sáng sót đọng của chiều tàn xuyên qua những áng mây đen như những tia hào quang tỏa sáng.  Ánh sáng chiều nhạt nhoà ngã bóng những cây thập tự trên vùng đồi Gô-gô-tha tạo nên một phong cảnh thâm-u huyền-bí. Khoảng xa xa, cánh cửa thành Jê-ru-sa-lem từ từ khép kín; đường phố Jê-ru-sa-lem thưa dần lữ khách.  Dân chúng chuẩn bị dùng lễ Vượt qua trong không khí ưu tư nặng trĩu. Cái chết chóc, cái tang chế đã làm cho người người xót xa buồn thảm.  Có một ngọn đèn nhà ai  vừa mới thắp khi ánh sáng cuối ngày cũng vừa tắt hẳn nhường lại cho bóng đêm quyền tể trị cả một vùng trời đen tối...