|
Lấy Vợ Miệt Vườn
Ngày qua năm tháng cứ trôi xuôi
Một phút nhớ xưa thoắt ngậm ngùi
Những ngở tro tàn trong bếp lạnh
Hay đâu than ngún dưới tro lùi...
(Bình Nguyên Lộc)
Tui đi Cần Thơ bằng tàu cao tốc cánh ngầm của hãng Vina Express với giá vé 135 ngàn đồng Việt Nam (khoảng chừng 9 đô-la Mỹ). Tàu rời bến Bạch Ðằng vào lúc 7:30 sáng. Cơn mưa đêm kéo dài cho đến sáng khiến cho cả Sài Gòn ướt sũng. Mới sáng sớm, người Sài Gòn che áo mưa ngồi xe đạp, xe máy lũ lượt ra đường bắt đầu một ngày mới. Sau ba hồi còi hụ, tàu từ từ rời bến, trực chỉ cửa Cần Giờ, bỏ lại sau lưng, đi xa dần những âm thanh, dòng người, khói xe đầy huyên náo, hỗn độn. Trong vòng không tới một tiếng, tàu ra tới cửa biển rồi sau đó thêm một đoạn thì theo cửa Tiểu, ngược dòng sông Tiền Giang mà đến Mỹ Tho để đổ khách. Rời Mỹ Tho, tàu theo cửa Hàm Luông mà ra lại biển để chạy thẳng hành trình về Cần Thơ. Ði dọc theo men biển cho đến cửa Ðịnh An thì tàu rẻ vào, ngược dòng sông Hậu Giang để đến đất Tây Ðô. Hai bên bờ xóm làng hiện dần ra, cây cối dầy đặc, xanh rì. Bên phải boong tàu là bờ sông tỉnh Trà Vinh, bên trái là cù lao Dung. Một số người dân ở trên bờ hiếu kỳ ngừng công việc, lỏ mắt dòm chiếc tàu trân trân, đưa tay vẫy vẫy như thể thấy người quen. Nãy giờ tui phải vất vả lắm, cố chen chân mới dành được một chỗ đứng trên boong tàu chật hẹp, chỗ dành cho hành khách đứng hóng gió. Tui đứng gần mấy cô gái trẻ có lẽ là người lên Sài Gòn làm ăn về thăm quê, xức dầu thơm thơm phưng phức, bay dào dạt trong gió. Họ chỉ trỏ, nói cười coi bộ vui vẻ lắm. Một vài cô gái có lúc kín đáo nhìn tui đăm đăm như dò xét gã đàn ông nào nãy giờ đứng lặng yên nhìn sông nước, xóm làng với vẻ trầm tư, nghĩ ngợi. Ðứng một hồi coi bộ mõi chân và bị nước mưa, nước sông hắt vô người hơi lạnh nên mấy cô gái tản dần vào trong khoang. Từ đây tới Cần Thơ còn xa nên họ thong dong ngồi xuống ghế, ngáp vắn ngáp dài rồi lần lượt ai nấy nghẻo cổ mà ngủ khò. Mấy cô gái đi rồi trả lại không khí êm ắng trên boong, tai tui chỉ còn nghe tiếng tàu rẻ nước rào rạt, nghe xa xa văng vẳng tiếng chó sủa, tiếng trống trường tiểu học kêu thùng thình. Con tàu ngược dòng Hậu Giang đưa tui về thăm lại Cần Thơ sau gần 20 năm trời đi xa biền biệt. Sông nước, cảnh vật, xóm làng, âm thanh ở hai bên bờ sao dường như thân quen, gợi tình quá đổi? Lát
nữa đây tàu sẽ cập bến Ninh Kiều, về đến Cần Thơ. Thành phố ấy có đổi thay nhiều lắm không sau bao nhiêu năm ròng? Và những con người nơi đó, họ bây giờ ra sao rồi sau bao nhiêu thăng trầm, biến động? Tui có cảm tưởng như con tàu đang đưa tui đi ngược dòng thời gian về thăm quá khứ, thăm lại vùng đất xưa, con người cũ, làm sống lại những hình ảnh của dĩ vãng thân thương ngày nào lúc tui còn trẻ, còn quá trẻ, trẻ hơn mấy cô gái hồi nãy đứng trên boong tàu nhiều. Tiếng sóng, tiếng gió miên man bên tai khiến cho lòng tui mơ màng, dường như nghe lại đâu đây mấy vần thơ cũ kỹ:
Dưới trời mây heo hút
Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút
Ðiệu hò ơ theo nước chảy chan hoà...
(Sơn Nam)
Kỷ niệm ngày xưa theo con nước giờ cũng chan hoà chảy trong lòng tui tràn lan, lai láng...
_ Thi ở dưới lo chụp mấy chùm nầy nha, chị liệng xuống đó nha!
Nói rồi là làm, chị Hân thẩy xuống tới tấp mấy chùm mận chín, trái nào trái nấy đỏ au, tròn lẳn, chắc nụi, nặng trịch.
_ Thôi đủ rồi chị Hân ơi. Nhiều quá rồi, ăn gì hết!
Nghe tới đó chị Hân ngừng tay, thoáng một cái đã phóng xuống tới đất, khom lưng lượm phụ tui mấy chùm mận tui bỏ bừa bãi chung quanh gốc. Bước tới cây chuối hột, chị đưa tay xé một tàng lá chuối khô dính vật vưởng vào bẹ chuối rồi gấp sơ sài lại thành một cái rổ đơn sơ nhưng khéo léo. Có trái mận đít dính đầy đất cát, chị đưa lên ngang miệng thổi phù phù cho bay bớt rồi mới bỏ vô rổ lá chuối.
_ Mình đem ra mương rửa sơ chút xíu nghen.
Chị Hân quày quả ôm cái rổ mận đi trước, tui thủng thỉnh đi theo sau. Tới ngay chổ gốc cây bưởi mọc gần mương có nhánh lớn mọc ve ra mặt nước chị Hân để rổ mận xuống gốc cây, lấy ra hai chùm mận rồi men theo nhánh cây cúi xuống nhúng chúng xuống nước, phẩy qua phẩy lại rồi vẩy vẩy mấy cái cho ráo nước rồi đưa cho tui một chùm.
_ Nè, ăn đi Thi. Chị một chùm, em một chùm.
Tui rề tới đưa tay cầm chùm mận, mắt ngó dáo dác chung quanh kiếm chỗ ngồi. Thấy vậy, chị Hân xích qua một bên chừa cho tui khoảng nhánh cây gần gốc.
_ Ngồi đi Thi, ngồi nói 'chiện' chơi. Chút nữa chiều chị còn phải vô nấu cơm cho tía má về ăn
nữa.
Còn hai ba bửa nữa là rằm. Mấy ngày này nước lớn sớm. Chưa chiều mà con mương cái đã đầy ăm ắp nước. Chị Hân đưa trái mận lên miệng cắn một cái rộp rồi thọc hai ống chưn xuống mương khuấy nước một cách chậm rãi, đều đều. Tui cũng bắt chước bỏ chưn xuống khuấy nước chơi nhưng vì tui ngồi gần gốc chổ mé mương nên chỉ bỏ được chưn phải xuống nước, chưn trái gác khơi khơi trên bờ. Chị Hân với tui cả hai người đều đi chưn không nên ngồi dọc nước như vầy tự nhiên trở nên vui vẻ, thi vị làm sao.
_ Hổm rày trưa trưa sao hổng thấy Thi qua chơi?
_ Em mắc phụ dượng vét mương.
Chị Hân ngó xuống mấy ngón chưn tui rồi nói:
_ Hèn gì mấy kẻ ngón chưn Thi dính sình đất tùm lum. Lát nữa để chị lấy bàn chải chà cho sạch dùm cho. Làm đàn ông con trai phải gan tí xíu, ráng chịu đau thì chị chà mới sạch được. Thi về quê có mấy
bữa mà chưa gì đã 'chưn lấm tay bùn' giống dân quê rồi.
Tui ngồi kế bên nghe chị Hân nói mà chỉ lặng yên cười, mắt ngó hai ống chưn trắng ngần của chị Hân đưa qua đưa lại dưới làn nước trong xanh. Chị Hân mặc quần vải đen, xắn cao lên quá mắt cá gần một tấc. Chị là người ở đây từ nhỏ đến lớn nhưng có lẽ là con gái miệt vườn ăn trắng mặc trơn cho nên tay chưn vẫn mượt mà, sạch sẽ, mấy ngón chưn, da thịt không bị đóng phèn vì nước sông như những cô gái lam lũ ở ruộng. Tưởng cũng nên nói sơ sơ qua về hai chử miệt vườn cho mọi người hiểu rõ. Theo các nhà khảo cứu, viết lịch sử, văn hoá, địa lý vùng đồng bằng sông Cửu Long thì họ thường chia vùng đất đai mới mẻ, mới chinh phục được trong vòng mấy trăm năm trở lại đây thành từng vùng kêu là miệt, một danh xưng địa lý chỉ một vùng, nơi chốn có mang nét đặc thù, bao gồm một khu vực nhỏ bé hơn miền. Theo họ thì ta có một vài miệt chủ yếu như miệt dưới (vùng Rạch Giá, Cà Mau), miệt Chợ Thủ, miệt Xà Tón, miệt Cao Lãnh, miệt Ðồng Tháp Mười, miệt vườn. Miệt Vườn là tên gọi nôm na cho những vùng đất cao ráo, đã được khẩn hoang, cải tạo lâu đời, nước ngọt, trồng nhiều cây trái như xoài, mận, ổi, bưởi, mãng cầu, sa-pô-chê. Những vùng này bao gồm những đất đai nằm dọc theo hay ở
giữa sông Tiền và sông Hậu như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Ðéc, Cần Thơ. Ðây được cho là nơi có đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá cao nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long. Câu ca dao miền nam quen thuộc:
Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh
phần nào nói lên điều này. Chỗ nhà của dì dượng Tư tui và nhà chị Hân thuộc xã Bình Tuyên, cách thành phố Cần Thơ chừng mười mấy cây số, có thể đi bằng đường bộ lẫn đường thủy. Xã này có chừng 5-6 ngàn dân, nằm dọc theo con rạch Ông Dinh ăn thông với sông Cần Thơ. Chạy dài từ rạch Bình Hoà vào xã dọc theo rạch Ông Dinh là con đường đất đắp cao ráo, v"ng chải. Nhà cửa của dân chúng nằm dọc theo con đường và con rạch này. Nhà của tía má chị Hân cách nhà dì dượng Tư chỉ có 3-4 dãi đất, chưa tớì 100 thước, đi bộ chừng vài phút là tới. Dượng Tư của tui vốn là người ở đây, lên Sài Gòn học, làm thầy giáo dạy Toán, sau đó đổi về tỉnh lỵ mới gặp dì Tư của tui. Sau năm 1975, chán ngán nghề giáo viên với đồng lương không đủ sống, dượng bàn với dì dọn về quê nội lo việc ruộng vườn. Coi vậy mà lật bật dì dượng đã đi được 4-5 năm rồi. Mấy tuần lễ trước, tui mới gặp lại dì dượng trong ngày giỗ ngoại. Lúc tui ra mở cổng thưa dì dượng mới lên thì dì Tư đã nói:
_ Chèn ơi, thằng Thi đây ha? Mới có mấy năm mà lớn bộn rồi đó nha. Con mấy tuổi rồi, thi Ðại Học chưa?
_ Con được 17 rồi dì. Năm sau mới thi lận. Mà sức con không biết thi có đậu không
nữa...
Tới đây thì má tui lên tiếng:
_ Ðó, tui cũng rầu cái vụ đó quá chị Tư ơi. Năm tới thi rớt là coi như đi nghĩa vụ rồi. Mà nói chị nghe nha, nó có chịu học hành gì đâu, cứ tối ngày đá banh ở ngoài đường, hổng không là ở nhà nằm đọc truyện. Hỏi bài vở thì nó nói nó làm rồi...
Tui cố gắng chống chế:
_ Con giải trí mà má, học hoài cũng đâu có vô nổi!
Chợt có tiếng dượng Tư nói vô:
_ Vậy con tính thi Ðại Học nào vậy?
_ Dạ con tính thử Bách Khoa mà môn Toán con còn hơi yếu, chưa phải là loại giỏi.
_ Muốn vô đó Toán phải cứng mới được. Con nghỉ hè rồi phải không? Hổm rày con làm gì, có dự định gì trong mùa hè này không?
_ Dạ con muốn luyện thêm Toán nhưng chỉ tự học, không có tiền đi học thêm.
Tự nhiên dượng Tư hỏi tui một câu xem chừng không liên hệ gì tới việc thi cử, học hành hết:
_ Con thường hay đá banh lắm phải không? Con đá có hay không, có sức lấn dành banh lại người ta không?
Chị hai đương xào chảo bún gạo bỏ ngang dòm tui cười cười:
_ Nó mà mạnh với ai dượng. Dòm cái tướng ốm nhách của nó cũng đủ biết rồi.
Tui quay lại trợn mắt:
_ Chị tưởng em yếu lắm sao? Dám cá hôn, em ẳm chị lên một cái một cho mà coi.
Nói là làm liền, tui chạy tới ôm hai bên bắp vế của chị hai mà nhấc bổng lên.
_ Ê, ê, thả tao xuống, té bây giờ! Tao hổng có giởn à nghen!
Chị hai tui chưa gì mà đã la lên choai choái. Thả chị hai xuống, tui mới quay qua thì dượng Tư đã hỏi:
_ Con làm vườn làm rẩy nổi không, phụ dượng một tay. Chiều tối thì dượng giúp lại con học thêm Toán.
Tui chưa kịp trả lời thì dượng Tư đã nói với má tui:
_ Thằnh Minh với con Xuân năm nay đi làm xa rồi, lâu lâu mới về. Công chuyện vườn tược, ruộng rẫy mình một tay anh làm không hết. Mướn thêm người ta thì tốn hao quá. Anh tính kêu thằng Thi về phụ anh trong mấy tháng hè này, sẳn đó cho nó luyện thi Ðại Học luôn. Anh sẽ chỉ dẫn cho nó tận tình. Cô bảy nghĩ sao?
Nghe lời đề nghị hợp tình, má tui đồng ý. Vậy là hai bữa sau tui khăn gói theo dì dượng đi miền Tây. Lúc chia tay ở bến xe lam, chi hai tui còn mua cho tui bịch nước mía, mắt đỏ hoe, giọng lạc hẳn:
_ Em cầm theo lên xe uống cho đở khát. Xuống dưới ráng siêng năng nghe lời dì dượng Tư. Chừng tựu trường em về nghen. Lâu lâu nhớ viết thư cho chị...
Chị hai tui thiệt tình. Lúc còn ở nhà thì chị em cứ gây với nhau như nước với lửa vậy mà bây giờ bịn rịn làm chi khiến cho tui ứa nước mắt, không nói được chử nào, chỉ gật gật đầu. Ông tài xế xe lam tàn nhẫn đạp máy xe rồi rú ga lên mấy lượt. Khói xe bay đen khịt, mù mịt, khét lẹt. Chiếc xe lam kêu mấy tiếng lạch bạch rồi từ từ rời bến. Chị hai còn đứng vẫy vẫy tay trong làn khói xe tan loãng dần... Ngồi trên xe tui vừa hút bịch nước mía vừa rơi nước mắt ràn rụa. Dì tui phải an ủi:
_ Coi cái tướng của con tưởng là mạnh mẻ lắm ai dè cũng mít ướt như con gái. Thôi nín đi. Về dưới ở có mấy tháng rồi lên, mắc mớ gì mà phải buồn. Ở gần nhà dì có con Hân đâu cở nhỏ hơn con Thùy (tên chị hai tui) mấy tuổi. Con nhỏ cũng ngộ gái, hiểu biết, để dì giới thiệu cho con làm quen, coi như nó thay thế chị hai con. Hình như nó lớn hơn con mấy tuổi gì đó...
Miền Tây hoá ra không đến nổi hãi hùng như trí óc tui tưởng tượng. Ở xứ sở miệt vườn này không có muỗi kêu như sáo thổi đĩa lềnh tựa bánh canh như chị hai tui đã thổi phồng, hù doạ. Xứ sở này hiền hoà, dễ sống, cảnh vật thì dĩ nhiên khác xa mảnh đất miền Ðông nơi tui sinh ra và lớn lên nhiều. Ở đây sông rạch chằng chịt, người ta đi xuồng, ghe nhiều hơn đi xe, có chiếc thì do người ta chống chèo, có chiếc chạy bằng máy. Loại thông dụng nhất là tắc ráng. Tui so sánh nó giống như chiếc xe đạp, xe máy người ta dùng đi trên bộ. Mấy ngày đầu tui không biết làm gì cứ lang thang, thơ thẩn hết ở trong nhà rồi ra trước sân nhìn xuống con rạch xem ghe xuồng qua lại hay đi lòng vòng ở sau vườn bứt cây trái ăn chơi. Hỏi dượng Tư có việc gì làm thì dượng nói chưa cần. Mấy hôm nay dượng đương bận bàn tính chuyện hùn hạp, làm ăn, dự định mở nhà máy xay lúa. Tui thấy nhớ ba má, nhớ chị hai nhiều, trông cho mau hết mùa hè để về trở lại quê mình.
Tuy còn nhỏ tuổi chưa biết so sánh, đánh giá cái đẹp, cái nét yểu điệu của phái
nữ nhưng tui vẫn hiểu rằng chị Hân mà dì Tư hay nhắc tới là một người con gái đầy duyên dáng, nếu không nói là đẹp. Vóc người chị hơi nhỏ bé, thon thả, tóc để dài đến ngang vai, buông thỏng tự nhiên, không cắt uốn cầu kỳ, chỉ được kẹp lại gọn gàng bằng cây kẹp nhựa màu xanh đọt chuối rẻ tiền. Chị mặc áo bà ba màu ngà nhạt, may bằng loại vải ú thông thường. Như đa số những người phụ
nữ Việt Nam lúc đó, chị mặc quần vải đen dung dị, bình thường. Trang phục giản đơn, bình dân nhưng nhờ nét hồn nhiên, tươi sáng trên gương mặt, nước da trắng trẻo, dáng vẻ uyển chuyển, tay chân đầy đặn nên từ con người chị toát ra vẻ khả ái, yêu kiều. Ðôi mắt sáng, nụ cười lúc nào cũng như chực nở trên cánh môi chúm chím, trề trề, dáng dấp nhí nhảnh, còn mang nhiều nét lí lắc của cô gái mới lớn nên đối với tui, chị trông giống cô thiếu
nữ 15 hơn là người con gái đã bước qua tuổi 20-21. So với các cô gái tỉnh thành cùng trang lứa đã biết làm duyên, se sua áo quần, chị thiệt trông còn nhỏ tuổi, ngây thơ hơn nhiều. Ðó là tất cả những nhận định, ấn tượng lúc ban đầu của tui khi dì Tư dắt qua nhà để giới thiệu, làm quen. Lúc đó chị Hân đương đá cầu ở trong sân nhà với mấy đứa con trai chừng 11-12 tuổi, quần đen xăn lên khỏi đầu gối, ống thấp ống cao, khua tay, khua chân như phân trần, cải vả với đám nít nhỏ điều gì. Dì Ba, má của chị Hân nói với dì Tư như phân bua:
_ Ðó chị coi coi, con gái lớn rồi mà tối ngày cứ chơi với đám con nít, tính khí bộc trực, ào ào, chưa biết dịu dàng, đằm thắm gì hết á. Mỗi lần tui với tía nó nhắc tới chuyện chồng con là nó cứ nhảy cà tưng, dẫy nẫy nhất định không chịu. Nó nói là cứ ở vậy lo cho ba má, lấy chồng con rồi ai lo cho hai ông bà già...
Dì Tư thì dường như có con mắt tinh đời hơn:
_ Chị nói vậy chứ theo tui thấy con Hân nó được người, được nết lắm chứ. Nó có văn hoá, biết ăn nói, thuận hoà với bà con lối xóm, có tấm lòng nhơn hậu. Giờ nó còn hồn nhiên, ngây thơ quá, chừng vài năm
nữa thôi là nó sẽ tự động biết lo, biết chau chuốt. Chị lo làm chi...
Tuy là dáng dấp bé nhỏ và gương mặt còn mang nhiều nét trẻ con vậy nhưng mà sau khi biết tui nhỏ hơn chị 3 tuổi, chị Hân lẹ làng xưng hô một cách tỉnh ruội:
_ Thi tự nhiên ngồi chơi đi cưng. Nghe dì Tư nói tới em hoài mà tới giờ chị mới biết. Cưng ở dưới này thấy sao, chắc buồn hơn ở tỉnh nhiều phải hôn?
_ Ðâu có, ở đây cũng vui chớ. Cuộc sống ở đây nhàn nhã, không khí trong lành, không hối hả, tấp nập, ồn ào. Với lại vài
bữa nữa em phải lo học thêm toán do dượng Tư chỉ dẫn. Năm sau em thi Ðại Học rồi.
_ Nghe em lo học vậy chắc em học giỏi lắm hả? Chị hồi đó học trung bình thôi nên thi không nổi vô Ðại Học. Mấy năm nay chị ở nhà phụ tía má vườn tược, bếp núc. Nhiều lúc ngồi nhớ tới thời còn đi học mà tiếc gì đâu. Lúc đó mình vui vẻ, hồn nhiên, vô tư lự, đâu phải lo nghĩ gì.
_ Chắc tại vì tiếc tuổi ấu thơ mà bây giờ chị cứ chơi với toàn đám con nít, cở chừng học lớp 6-7 là cùng. Chơi với tụi nó thì vui thiệt nhưng mà khi có chuyện cần người để giải bày, tâm sự thì đâu có nói được với tụi nó. Bộ chị không có bạn bè gì thân ở gần đây à?
_ Hồi trước còn đi học chị cũng có nhiều bạn lắm chứ, kể cả mấy người bạn chung xóm này. Mấy năm nay tụi nó lần lượt đi lấy chồng hết ráo, giờ này con bồng, con đeo đâu có rảnh mà chơi với mình.
_ Vậy chớ chị có người bạn trai nào không?
_ Cũng có chớ nhưng đa số bọn họ cù lần lắm em ơi! Nói chuyện với chị bị chị nói cho cứng họng rồi mắc cở mà rút lui hết trơn. Tía má rầy la chị vụ này
dữ lắm, kêu chị lo lấy chồng như mấy người bạn khác, an phận cho rồi nhưng mà chị thấy sao khó quá. Ít ra phải tìm thấy người mình mến, mình nể, mình thương chớ. Bây giờ thà cứ ở vậy chiều chiều ra sân đá cầu, đánh cầu lông với mấy đứa nhỏ còn vui hơn. Thây kệ cho tía má đôn đốc, chuyện tới đâu hay tới đó, thủng thẳng rồi tính.
Từ ngày làm quen với chị Hân rồi, cuộc sống ở nơi đây đối với tui dường như vui hẳn lên. Một hai ngày sau đó thì tui bắt tay vào phụ dượng Tư lo vườn tược, sửa sang chuồng gia súc, nhà kho, nhà tắm, bắt lại mấy cây cầu ngang mấy con mương lớn. Dượng Tư là cả một kho kiến thức. Tui được chỉ dạy cách chiết cành, tháp cây, học luôn gốc gác, xuất xứ của những loài cây ăn trái mà hồi đó tới giờ không để ý tới. Tui nào có biết rằng cây sa-pô-chê và đu đủ có xuất xứ từ Trung Mỹ, được người Tây Ban Nha đem qua Phi Luật Tân rồi sau đó được rải ra khắp vùng Ðông Nam Á. Cây măng cụt, chôm chôm, sầu riêng thì được mang đến từ đất Mã Lai bởi các nhà truyền giáo ngày xưa. Ngay cả cây ổi tưởng là cây trái của bản xứ nhưng cũng không phải. Chỉ có khế, mận, chuối, mít là gốc gác của Việt Nam mình, hay cả chung vùng Ðông Nam Á. Buổi tối thì dượng và tui bắt đầu vào việc học toán, mỗi đêm 2 tiếng, nghỉ hai ngày thứ bảy và chúa nhật. Những ngày rảnh rỗi không phải làm vườn với dượng, tui qua thăm chị Hân. Chúng tui hai người nhanh chóng trở thành đôi bạn thân. Có
bữa chị Hân chèo xuồng đưa tui ra chợ gởi thư về cho ba má, chị hai. Tui học cách chèo xuồng, cách rẻ nước khi có sóng lớn của mấy chiếc ghe máy, ghe bầu chạy ngang qua để khỏi lật xuồng. Nhiều trưa hè nóng nực, chúng tui ra sau vườn ngồi hóng mát dưới gốc cây mận lớn, kể chuyện cho nhau nghe. Tui đọc truyện, đọc sách nhiều, nghe nhiều, nhớ nhiều chuyện văn học, lịch sử, khoa học nên đem ra kể cho chị Hân nghe. Nhiều đoạn tui ba xạo thêm thắt lung tung, bịa ra tên nhân vật vì quên mất tên thật nhưng chị Hân vẫn nghe say mê. Chị khen tui hiểu biết nhiều, học rộng nhưng chị có biết đâu rằng phần lớn là tui mới học được của từ khối óc và tủ sách của dượng Tư. Chị Hân rất ngạc nhiên khi biết rằng chiếc áo bà ba mà chị và những người phụ
nữ miền nam hay mặc không phải là do chính người Việt Nam mình làm ra mà là từ người Mã Lai. Bà Ba là tên gọi những người Bà Ba vốn là người Mã Lai lai Tàu. Chiếc áo đơn giản, vạt ngắn, không bâu thiệt tiện lợi đã được người dân miền nam mau chóng tiếp nhận và truyền lại từ đời này qua đời khác cho đến ngày nay. Còn tui thì được nghe những câu chuyện địa phương, từ phong tục của mỗi sắc dân, làng xã, những ngày lễ hội, những đám cúng đình, những câu hò điệu hát miền nam. Tui thấy rằng miền Tây nói chung hay miệt vườn nói riêng là nơi dung hoà, tổng hợp của nhiều nguồn gốc văn hoá, dân tộc, từ Kinh, Miên, đến Quảng Ðông, Triều Châu, và cả văn hoá Âu Tây tân thời. Tất cả những 'đặc sản' này được trộn lộn lại lộn xà ngầu giống như một nồi xà bần mà hình thành ra một thứ văn hoá, con người riêng biệt, đặc thù của miệt vườn. Họ có lòng bác ái, tính tình ôn hoà, dễ hoà hợp, phóng khoáng, thực tế, không lý luận, không gian xảo, yêu ghét ai hay muốn nói gì thì cứ nói phứt ra cho rồi. Vùng đất phù sa đắp bồi ngày xưa ông cha, tổ tiên ta đã đổ biết bao nhiêu xương máu, mồ hôi, nước mắt mà dành lấy, khai phá, khẩn hoang bất kể muỗi mòng, rắn đĩa, đói khổ, bệnh hoạn. Những đêm trăng sáng, dượng Tư hay cao hứng bắc ghế ngồi trước sân kể cho tui nghe chuyện đời xưa, chuyện khai khẩn đất đai của vùng đất này, chuyện những văn thân, sĩ tử như Nguyễn Ðình Chiểu, Trương Vĩnh Ký xưa kia, chuyện những anh hùng đã đổ máu hi sinh chống gót giày xâm lăng của đoàn quân viễn chinh Pháp mặc dù họ đã biết trước cuộc đấu tranh của họ là tuyệt vọng vì thua sút về văn minh, cơ giới. Những dịp này có chị Hân qua chơi, cùng ngồi với tui nghe dượng Tư kể chuyện, ngâm thơ. Chúng tui cả hai còn trẻ dại, nào có hiểu gì những tư tưởng, ngụ ý, nỗi lòng trong các bài văn thơ mà dượng Tư đọc qua. Dượng thực ra muốn kể cho chúng tui nghe để hun đúc tinh thần yêu nước, không quên ơn tiền nhân trong lòng con cháu hay là muốn tự ru nỗi lòng mình? Quan niệm nhân sinh của văn hào Trương Vĩnh Ký nghe thật mủi lòng:
Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quay
Xô đẩy người vô giữa cõi đời
Học thức gởi tên con sách nát
Công danh rút cục cái quan tài
Dạo hòn lũ kiến men chân bước
Bò xối con sùng chắc lưởi hoài
Cuốn sổ bình sinh công với tội
Tìm nơi thẩm phán để thưa khai.
(Còn tiếp kỳ sau)
Một ngày mưa tháng 3, 2001
Trần Văn Ðua
|