|
|
|
Những hoài niệm về ÔNG BÀ NỘI & QUÊ HƯƠNG TUỔI THƠ Vũ Ðức Nghiêm Mùa xuân 1949. từ làng Hoành Nha, tôi theo anh cả tôi là Vũ Ðức Chang lên đường đi Hà Ðông, nơi anh tôi làm việc, để học ôn thi Trung học phổ thông,( bằng lớp 9 sau này). Ông nội tôi lúc bấy giờ đã gần 80 tuổi, cũng lụ khụ chống gậy ra tiễn hai cháu. Từ Bến May nhìn ngoảnh lại Bến Giữa, tôi còn thấy Ông Nội nhìn theo vẫy tay từ biệt. Chiếc áo lông chồn màu đen của Ông Nội bay phất phơ trong gió sớm. Ðó là hình ảnh cuối cùng của Ông Nội, mà đến nay, hơn 50 năm trôi qua, vẫn còn in đậm nét trong lòng tôi. Tháng 8-1950, sau một cuộc hành trình gian khổ từ Việt Bắc trở về Thanh Hóa, tôi được chị Lý cho biết tin Ông Nội đã qua đời trưóc đó một tháng. Tôi đứng ngoài sân bưng mặt khóc thảm thiết; có lẽ suốt cuộc đời tôi, tôi chưa bao giờ khóc như vậy. Tôi ngậm ngùi nhớ lại bài thơ Khóc Ông của một nhà thơ nào tôi quên mất tên mà tôi thuộc lòng khi mới 7, 8 tuổi
Những kỷ niệm về Ông Nội đầy ắp trong lòng tôi. Từ khi mới chập chững biết đi, ngoài cha mẹ ra, thì Ông Nội gần gũi tôi nhất. Căn nhà cha mẹ tôi ở cách xa nhà Ông Bà Nội chừng vài chục mét, nên tôi thường chạy sang thăm Ông Nội. Ông thường mở tủ lấy táo tầu cho tôi ăn hoặc pha nước Xi-rô cam cho uống, những món này tụi con nít rất thích . Ông Bà Nội và toàn thể đại gia đình là tín đồ Tin Lành, nên có những buổi họp thường xuyên để hát thơ thánh (nay là thánh ca) và cầu nguyện vào mỗi buổi sáng. Ông Nội là một tín hữu rất sốt sắng và gương mẫu, mỗi khi nhóm lại, Ông Nội mặc áo dài khăn đóng chỉnh tề. Ông Nội thuộc lòng rất nhiều câu Kinh Thánh,--- Khoảng Giáng Sinh cuối thập kỷ 30, Ông Nội lên Nam Ðịnh thi Kinh Thánh tại Nhà Thờ Tin Lành Nam Ðịnh, do Cụ Cố Mục Sư Dương Tự Ấp quản nhiệm, Ông Nội đã được chấm giải nhất .--- Ông Nội có một tập sách thơ thánh đóng bằng giấy bản (trong Nam gọi là giấy xúc), Ông viết những bài hát bằng chữ Nôm. Vốn là chú bé sáng dạ và láu lỉnh, tôi mở sách Thơ Thánh của Ông Nội trang đầu tiên và hỏi Ông Nội: Chữ gì đây Ông? Ông Nội trả lời : Thương con ta bỏ mình ta..., Tôi chỉ chờ Ông Nội xác nhận, liền đọc rành mạch những câu tiếp theo :
Ông Nội chắc hẳn là ngạc nhiên lắm vì Ông cứ tưởng rằng chú nhóc tì là tôi mới có 6, 7 tuổi mà đã biết đọc chữ Nôm vanh vách, Có lẽ Ông đã không ngờ rằng thằng cháu nội của Ông thuộc lòng khá nhiều bài hát trong Thơ Thánh. Vào những năm khoảng cuối thế kỷ 19, Cụ tằng nội tổ (cụ tổ 4 đời của tôi) là Tri Phủ Thăng Bình Vũ Ðức Khiêm kết nghĩa thông gia với cụ Phạm Tri Phủ Bắc Ninh, xin cô gái thứ hai của Cụ Tri Phủ Bắc Ninh về làm dâu nhà họ Vũ. Bà con gái lớn Cụ Phạm Tri Phủ là dâu nhà Cụ họ Nghiêm, là nội tổ mẫu của quý vị Nghiêm xuân Thiện, Nghiêm xuân Thọ, Nghiêm xuân Huỳnh, Nghiêm xuân Chúc, v...v.. ... Bà con gái út Cụ Phạm Tri Phủ là thân mẫu của quý vị Hồ Ngọc Trân, Hồ Quang Trạc, v..v.. Bà nội tôi, người nhỏ nhắn, dịu dàng thương con cháu hết lòng. Bà tự học chữ Quốc ngữ, và ở đầu thế kỷ 20, thật là hiếm thấy một cụ già nhà quê ở tuổi 60, 70 mà đọc sách quốc ngữ rất thông thạo. Lúc còn trẻ,bà đi lễ chùa nhưng khi trở lại đạo, Bà Nội là một tín hữu gương mẫu. Bà Nội thuộc lòng nhiều bài hát thánh ca, (hồi đó còn gọi là Thơ thánh) và bài hát Bà Nội thường hát là ''Thật đáng thảm thương, tôi đã lạc đường, Nay quay đến Giê-Xu'' và bài ''Thập tự giá, tôi nay đứng bên'', những bài mà nay hát lên, lòng tôi thật rung động vì những kỷ niệm của hơn 60 năm trước, khi tôi bắt đầu làm quen với những bài hát ca ngợi Chúa. Rất tiếc trong những bài Thánh ca hiện nay không thấy nhắc tới những bài hát này. Những kỷ niệm đầu đời khi tôi còn là chú bé lên 2,3 tuổi hiện ra trong trí tôi thật là đậm nét. Tôi còn mường tượng thấy căn nhà ngang, thường gọi là nhà bổi, vì lợp bằng cói, Bà Nội ngồi trên võng đưa kẽo kẹt, hát ru tôi nằm gọn trong lòng Bà. Bà Nội mặc áo bông thật dày, trời cuối năm, thật lạnh. Bà Nội kéo vạt áo đắp cho tôi, tôi thiu thiu ngủ, nhưng vẫn mơ màng nhìn thấy những đụn thóc cao tận nóc nhà, với những quầy cót vây chung quanh. Gần đãy là chiếc xe đạp ba bánh đã cũ của tôi. Những hình ảnh chung quanh mờ đi khi tôi thiếp dần vào giấc ngủ ấm áp trong vòng tay Bà Nội.. Những năm đầu thập kỷ 50, khi tôi đã nhập ngũ, có lần tôi hành quân qua làng Hoành Nha.. Khi ấy, Bà Nội cũng đã yên nghỉ cạnh Ông Nội trong cánh đồng đối diện Bến May, nơi đó, mấy năm trước tôi đã nhìn thấy Ông Nội vẫy tay chào anh em tôi lần cuối. Tôi đã đứng đó, hướng về nơi Ông Bà Nội yên nghỉ, ngả mũ chào như Bố tôi vẫn thường ngả mũ chào khi đi qua nơi yên nghỉ của các cụ tổ bốn năm đời của tôi. Khoảng năm 1936, Mẹ tôi cho tôi lên Thái Bình, nơi Bố tôi làm việc để đi học lớp vỡ lòng. Lần đầu tiên xa quê, tôi thường hay khóc vì nhớ mẹ. Các người lớn ở cùng nhà chỉ hơn tôi chừng 4, 5 tuổi, gồm có anh Chang, anh cả tôi, 10 tuổi, anh Khánh 9 tuổi, anh Lý 12 tuổi , (hai anh là con trai của bác ruột tôi, cụ Vũ Ðức Phúc đã qua đời năm 1941) chú Bạ 15 tuổi, ( con trai út Ông Bà nội ) sau này đổi tên là Vũ Quốc Ngọc và các cậu em ruột mẹ tôi, cậu Thiệu, cậu Thuật, đều ở lứa tuổi 15, 16. Tiểu đội học trò này ở tuổi mới lớn , được Bố tôi áp dụng kỷ luật chặt chẽ, nên sợ Bố tôi một phép.... Mỗi sáng, muà hè cũng như mùa đông, Bố tôi đánh thức tất cả, lùa ra khỏi nhà, dẫn đầu tiểu đội chạy từ nhà 25 đường Miribel, hướng về phía đường Jules Piquet, quẹo phải chạy đến cầu sông Bo, dừng ở gần cầu, tập thể dục., --dĩ nhiên bọn chúng tôi chẳng ai thích gì điều này, tất cả đều phải làm theo lệnh một cách miễn cưỡng mà thôi,----. Khoảng chừng 15 phút sau, tất cả trở về nhà, điểm tâm bằng cháo trắng trước khi bố tôi đi làm và chúng tôi đi đến trường. Ðáng lẽ chúng tôi có thể được ăn ngon hơn, nhưng Bố tôi luôn chủ trương sinh hoạt khắc khổ theo tinh thần câu nói Jeunesse laborieuse , vieillesse heureuse, (tuổi trẻ làm việc khó nhọc, tuổi già sung sướng ) mà Bố tôi hay nhắc nhở mọi người. Bố tôi thường viết những câu như khẩu hiệu trên tường, mà hơn 50 năm qua tôi còn nhớ: "Ðem thiếu thốn, đem cực khổ, đem đau thương chắn đường một thiếu niên, ấy là tập luyện cho anh ta có đủ tài năng để sau này gặp một trận gió, có thể co chân một cái, nhẩy lên đến tận trời.... Ðem sung sướng, đem an nhàn, đem thoả thích vây bọc một thiếu niên, ấy là tiêm vào cơ thể y một cái mầm tê liệt để thành một phế nhân." (Trích ''Sợ Sống'' của Lê văn Trương.) Bố tôi đã áp dụng kỷ luật rất chặt chẽ, không khoan nhượng, và chú bé 6 tuổi là tôi cũng phải khép mình trong tinh thần kỷ luật đó. Có lẽ, do ảnh hưởng đó, mà sau này, như một phản ứng nghịch, tôi trở nên dễ dãi, có thể là quá dễ dãi, một thứ ''permissive parent'' đối với các con tôi. Những ngày đầu tiên đi học của tôi thật là vất vả. Mỗi sáng, anh Lực, ngưòi giúp việc nhà, thường kéo tôi ''lết'' theo anh đến trường Cao Phong,-- xế cổng trường Monguillot, trên đường Jules Piquet, mà sau này tôi đi học lớp Enfantin (lớp Ðồng ấu, về sau gọi là lớp 1) Tôi nói '' lết'' là vì tôi sợ đi học, anh Lực phải kéo tay tôi lôi sềnh sệch theo sau anh. Thầy giáo dạy tôi tại Trường Cao Phong vào khoảng 25, 30 tuổi, dưới mắt chú bé lên 6, trông thật oai vệ với bộ râu quai nón xồm xoàm. Thầy mặc quần áo Tây mầu xanh đậm. Tôi tập viết, thầy giáo viết những chữ bằng bút chì, tôi dùng bút mực tô lên chữ thầy viết. Nhưng vì không mang theo mực viết, tôi quay xuống bàn sau chấm nhờ mực của thằng Tính. Thằng Tính đấm vào giữa mặt tôi khá mạnh, máu mũi tôi chảy ra. Tôi khóc ré lên, thầy giáo dắt tôi ra phía sau nhà, lấy khăn mặt đỏ thầy vắt trên vai, nhúng vào chiếc chum nhỏ còn chút nước nằm dưới đáy có mấy con lăng quăng bơi lội mà lau mặt cho tôi. Những gì xẩy ra sau đó, tôi đã quên hết và sau đó tôi không đi học ở trường Cao Phong nữa. Năm sau, tôi học lớp Dự bị, tiếng Pháp là Cours Preparatoire, cô giáo là vợ thầy Ðốc học, học trò gọi bà là cô Ðốc Quýnh. Cô đến lớp học bằng xe nhà gọng vàng, có người nhà kéo xe. Mỗi sáng cô mang theo một ổ bánh mì dài kẹp giò chả, và cô ngồi trong lớp thản nhiên nhai bánh mì rau ráu trước cặp mắt khao khát của lũ học trò con nít. Cô Ðốc Quýnh rất dữ đòn. Trẻ con phạm lỗi hoặc không thuộc bài, cô bắt chụm năm ngón tay, dùng thước kẻ bịt đồng gõ lên đầu ngón tay. Những ngày mẹ tôi từ quê nhà lên Thái Bình là những ngày thần tiên và vô cùng sung sướng cho cả gia đình. Bao nhiêu nỗi khổ đau của những ngày xa quê được mẹ tôi bù đắp và riêng tôi được Mẹ âu yếm săn sóc cho ăn quà và những món ăn mà tôi thèm khát bấy lâu. Rồi ngày vui qua mau, khi mẹ tôi lên xe trở về quê, tôi khóc thảm thiết. Nỗi buồn nhớ mẹ đeo theo tôi dai dẳng tưởng chừng không bao giờ nguôi ngoai. Có lần Ông Bà Nội lên chơi. Xe vừa đỗ trước cửa, tôi chạy vội ra ôm ông bà, hôn như mưa lên mặt, lên tay ông bà. Bố tôi nhìn thấy, hẳn là người cảm động và tự hào biết bao khi thấy tôi bày tỏ tình cảm thương yêu ông bà nội. Ðến nay đã hơn 60 năm qua rồi, tôi đã có một đàn cháu nội ngoại, và mỗi khi cháu Thu Nhi, Ðan Sơn, hay Naômi, Jeremy, Linh Chi và Tuyết Nhi ôm hôn vợ chồng tôi, lòng tôi thật bồi hồi nhớ lại ông bà nội đã qua đời 50 năm qua. Tôi chắc là các con trai con gái tôi đều có niềm vui và cảm động như bố tôi ngày xưa thấy tôi ôm hôn ông bà nội của tôi vậy. (Còn tiếp: Những ngày Tết quê ngoại.) |