|
|
Dâng
Hiến
Lịch
Sử Chương Trình
Hợp Tác
(Co-operative
Program)
của
GH. Southern Baptist Convention
Trong
thời tiết oi ả, nóng bức của thành phố
Memphis, thuộc tiểu bang Tennessee, nhưng đã không làm
nản lòng của 5600
đại biểu từ nhiều hội thánh về phó
hội hằng năm của giáo hội Southern Baptist
Convention. Những đề nghị, ý kiến không kém
gì so với thời tiết bên ngoài.
Có hai điều quan trọng của Ðại hội
năm 1925 được thành hình:
Thứ nhất:
Niềm tin và Sứ điệp của SBC.
Nhiều việc đã được đưa ra
để nghị sự trong đại hội.
Nhưng khi chủ tịch ủy bang điều nghiên
Dr. E.Y. Mullin tường trình bảng dự thảo
về Niềm tin và Sứ điệp của SBC.
Và được sự thừa nhận của Ðại
hội đồng.
Thứ hai:
Chương Trình Hợp Tác của SBC.
Sự cải cách lối tổ chức về điều
hành nổi bật, đó là chương trình hợp tác
của SBC (Cooperative Program of Southern Baptist).
Ngày 13 tháng 5 năm 1925 được biểu
quyết và thừa nhận và danh xưng là “Future Program
Commission”. Cũng trong
dịp này Chủ-tịch của ủy-ban điều
nghiên giới thiệu với toàn thể con cái, tôi
tớ Chúa đã đóng góp cho chương trình nầy
với quy tắc căn bản để tiện việc
điều hành: 1.
Chương trình hợp tác phải đồng công
và ngang hàng giữa Tiểu bang và Giáo hội. 2.
Trách nhiệm vận động chung phải
trực thuộc với Ủy ban điều hành (danh xưng
nguyên thủy” Commission on Cooperative Program of SBC “bây
giờ là” SBC Executive Commitive.”) 3.
Những vận động với hội thánh địa
phương. Trách
nhiệm trực thuộc của Tiểu bang. 4.
Ngân khoản dâng hiến từ hội thánh địa
phương dâng phải được chia đều
giữa Tiểu bang và Giáo hội (SBC). 5.
Ngoại trừ những ngân khoản dâng hiến
đặc biệt về những cơ quan đã
được ưng thuận của Giáo hội. (Annie
Armstrong hay Lotti Moon). 6.
Tiểu bang được chia ngân khoản nhận
được để dùng cho các mục vụ, và
phần Giáo hội cũng vậy. 7.
Các cơ quan liên hiệp với chương trình
hợp tác không được phép liên hệ với các
hội thánh địa phương trực tiếp. 8.
Những tổn phí về điều hành cũng như
vận động được khấu trừ trước
khi chia đều với Giáo hội. 9.
Chương trình hợp tác có đặc quyền dùng
ngân khoản để chi phí cho nhân viên. 10.
Các cơ quan được quyền tìm những cá
nhân có những ân tứ đặc biệt để
hầu việc trong cơ quan mình. 11.
Ngân khoản được giữ trong trương
mục ủy thác, với sự trực thuộc của
hai cơ quan; Tiểu bang
và Giáo hội. Tiểu
bang không được đụng đến ngân
khoản của Giáo hội. 12.
Chương trình hợp tác sẽ nhận những
ngân khoản dâng hiến đặc biệt (designated) cũng
như không biệt riêng (undesignated). Ngoài mười
hai quy tắc căn bản, Giáo hội còn gặp
phải những ưu khuyết của chương trình
này; Thời gian từ
1925 đến 1927, ngoại trừ những xáo trộn
nho nhỏ, đã được coi là “bước
tiến khả quan” (fairly well established).
Dr. Austin Crouch - người giám đốc điều
hành (1st president of the Executive Commitee) đầu tiên
và hơn hai mươi năm (1925-1949) - đã chia xẻ
như sau : A-
Những khuyết điểm:
Sự lý thú lạ thường là những anh em người
Báp tít đã ngồi lại với nhau để đề
bạt những chương trình nghị sự và đồng
ý biểu quyết. Nhưng
khi hành động thì suýt tí nữa Giáo hội sạt
nghiệp vì: 1.
Quên: Nan đề gặp phải đầu tiên (tiền
đâu), có một năm ngân khoản hứa dâng là: 92
triệu 630 ngàn 923 đồng, nhưng chỉ nhận
được 58 triệu 91 ngàn 713 đồng vì quá
nhiều đại biểu đã quên. 2.
Nền kinh tế bị khủng hoảng:
Ðệ nhị thế chiến cũng đã làm cho
Giáo hội gặp khó khăn không ít.
Sự mất giá của mễ cốc, mà đa
phần các nông gia miền nam nước Mỹ là rường
cột của Báp Tít Nam Phương. B-
Những ưu điểm: Chưa đầy hai mươi
năm, trải qua những thăng trầm. Nhưng đến
1943 chương trình hợp tác của Báp Tít Nam Phương
đã vui mừng, nên chọn chủ đề của Ðại
Hội Ðồng là “ Hết Nợ Năm 43” (Debt Free in
“43”). Thử
tìm những ưu điểm: 1. Có những tôi tớ
dám hy sinh: Trong chương trình vận động để
có được 75 triệu đồng của các tôi
tớ Chúa như: Dr. L.R. Scarborough. Dr. George W. Truett. Dr. JB
Gambrell. Những quan sát viên ghi lại: a. Báp Tít Nam Phương đã nhận ngân
khoản truyền giáo trong cuộc vận động là
75 triệu, nhiều hơn 75 năm cộng lại. b. Hàng ngàn ngàn hội thánh đóng góp cho công
cuộc truyền giáo cho quốc nội cũng như
quốc ngoại. c. Nhiều hội thánh nhận thấy sự
ích lợi trong sự hiệp nhất. 2. Chương
trình hợp tác là trong chương trình của Chúa: Dr.
Austin Crouch vị giám đốc điều hành đầu
tiên đã để lại những lời nầy trước
khi về với Chúa. “Về công việc
yểm trợ cho Chương trình hợp tác có ba
tiền đề riêng biệt:
Truyền giảng, Dạy dỗ, và Tương
tế xã hội ... Trong chương trình có chủ đích
và có phương pháp, đương nhiên;
Sứ đồ Phao-lô cho chúng ta năm điểm
về sự liên hiệp: Phao
lô Khuyên, nhiều hội thánh Chúa nên đóng góp cho
những người nghèo ở Giê-ru-sa-lem, và phương
pháp là vận động tiền bạc theo sự hướng
dẫn và viết cho hội thánh Cô-rinh-tô.
Cứ ngày đầu tuần lễ, mỗi người
trong anh em khá tùy sức mình chắc mót được
bao nhiêu thì để dành tại nhà mình... khi tôi đến
...đem tiền bố thí của anh em đến thành Giê-ru-sa-lem.”
(I Cô-rinh-tô 16:2-3). Nhìn
người ta, khiến lòng mình thổn thức nên
khẩn thiết cầu xin hồng ân của Ðức Chúa
Trời Ba Ngôi ban cho một trận mưa phước lành.
Ðể những giòng nước mát yêu thương
bao dung chảy vào lòng của con tôi Chúa trong Liên Hữu
Hội Thánh Tin Lành Báp Tít Việt Nam trong vùng Bắc
Mỹ trong tương lai. Mục
sư Trương văn Minh,Thủ Quỹ/ Ủy Viên Tài
Chánh Liên Hữu (Chuyển
ngữ từ SBC Life, June & July 2000). |