|
Một Phật Tử Tha Hương
NHẬN ÐƯỢC NIỀM TIN CHÂN THẬT DO LÒNG
THƯƠNG XÓT CỦA ÐỨC CHÚA TRỜI CHÍ CAO
|
Như đa số người sanh đẻ tại mảnh đất hình chữ S Việt-
Nam, tôi được sanh trưởng trong một gia đình thờ cúng ông
Bà và tự xưng là theo đạo Phật. Tôi từng theo bà nội
và má tôi đi Chùa từ thuở nhỏ. Tôi vẫn còn nhớ là
đã thường được ngồi trong lòng quý ông bà Sải cả-
ông Sư chủ trì Chùa ở miền Nam. Tôi cũng từng ăn chay
với má tôi, cũng như thắp nhang lạy Phật, lạy bàn thờ
hình ông bà. Khi Phật giáo bị đàn áp, má tôi và tôi
chính thức quy y tam bảo tại Chùa Phật Học Xá Lợi Nam Việt.
Tôi vẫn thường ăn chay tụng kinh gõ mõ, niệm Phật, luyện
Yoga; dù đang dạy trường của các Linh Mục, các thầy Công
Giáo. Lòng đầy kiêu hãnh với việc học đầy tiến bộ, và
sẽ đi du học để có mảnh bằng cao hơn, ngõ hầu sau này có
thể làm lớn trong chính quyền.
Tôi đã luôn nghĩ rằng: Phật
Giáo là tôn giáo hay nhứt. Hay ở chỗ là mình có thể tự
tu tập để trở thành Phật, nếu kiếp này không thành thì
kiếp sau, hay kiếp sau đó nữa... Vả lại, sống trong xã hội
đại đa số là Phật Tử, tôi nên giữ là đạo Phật để
dễ làm lớn sau này. Ðó là lập trường phải nhứt. Tôi
đã giữ lập trường này rất lâu. Bằng cớ được kể
như sau. Khi tôi bị động viên và được đưa lên Ðà Lạt
dạy văn hoá, tôi thuộc khoa Toán, cho sinh viên sĩ quan
trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, tôi có ý xin đi Mỹ để
có bằng cao hơn. Học Anh Văn đã hơn mười mấy năm, đọc
được, viết được và nói được. Ấy vậy, khi tôi nói
chuyện với vị cố vấn Mỹ của phân khoa tôi, ông ấy không
hiểu tôi nói gì và tôi cũng không hiểu ông ấy nói gì!
Một sáng thứ Bảy nọ, khi đi phép trên đường Minh Mạng
từ chợ Ðà Lạt đổ dốc xuống Phan Ðình Phùng, tôi đi
ngang qua một căn phố nọ và thấy một ông Mỹ đang dạy
tiếng Anh cho vài người Việt. Tôi vào và xin học. Tôi
được chấp nhận. Ông ấy là Giáo Sĩ Jim Gayle. Ông ấy cho
tôi quyển "Good News" và các sách học Anh Ngữ.
Sau
đó tôi được học bổng của USAID đi học bên Mỹ. Khi tôi
đang học tại "The University of Texas at Austin" ông ấy về
nghĩ một năm và vô tận trường thăm tôi, cũng giới
thiệu tôi cho một Baptist Church gần trường. Trọn một
"semester" Hội Thánh này cho một thanh niên Mỹ đến
chở tôi đi học trường Chủ Nhật và dự mỗi buổi thờ
phượng. Sau khi tốt nghiệp tôi trở về Việt Nam cưới vợ,
dạy Võ Bị và Viện Ðại Học Ðà Lạt, Trường Chính Trị Kinh
Doanh. Trong một buổi lễ khai trường, một Linh Mục giảng "
Nếu ngươi không theo Ta là ngươi chống Ta," cả vợ và
tôi cố ý chống tư tưởng đó, và nói với nhau; tại sao
trung lập không được? Ghi lại các điều này để chứng tỏ
rằng tôi đã giữ rất lâu lập trường tiếp tục ở trong
đạo Phật. (Cả việc hai anh chị sinh viên Chính Trị Kinh Doanh nọ
mời hai vợ chồng tôi đến dự đám cưới của họ ở
trong Hội Thánh Tin Lành Ðà Lạt. Cả vợ tôi giáo sư kế
toán của họ, cũng không đến dự). Bây giờ tôi mới
biết. Chúa đã cho người săn sóc hướng dẫn tôi mọi bề.
Ngày 30 tháng 3 năm 1975, theo lệnh truyền, tôi một sĩ quan
giáo sư chưa từng cầm quân, được "hân hạnh" dẫn
đại đội binh sĩ đi sau cùng của đoàn sinh viên Ðà Lạt,
rút lui xuống Phan-rang, Phan-thiết, rồi về trại Long Thành.
Nhờ bị bỏ lại một đêm với binh sĩ mà ngày hôm sau vẫn
dẫn binh sĩ về đầy đủ tôi "được đưa lên" làm
trong văn phòng ông Tướng Chỉ Huy Trưởng rồi kế đó, đi
nuôi ông trong trại giam bộ Tổng Tham Mưu. Ngày 20 tháng 4 nghe
thấy thiên hạ đi Mỹ, tôi viết thơ lên Tây Ninh bảo vợ con
xuống Sài Gòn để đi Mỹ, cho đi thì được đi vì tôi đã
xin USAID cấp giấy xác nhận vợ và tôi đều đã du học sinh
của Mỹ. Thấy vợ con không xuống, vào ngày 28 tháng 4 tôi
đi xe Honda đến dầu võ thì bị lính Việt Nam Cộng Hòa chặn
lại vì Việt Cộng đang chiếm cái cầu vào Tỉnh Lỵ Tây Ninh.
Ngày 30 tháng 4, khi bom đạn nổ đầy trời Saigon, tôi nhảy
lên tàu Ðại Hàn tại Tân Cảng và được đến tạm trú
tại đảo Wake sau khi qua căn cứ Mỹ ở Phi Luật Tân. Lòng
buồn vô hạn dù có ý nghĩ là phen này mình sẽ "enjoy
life!". Trong khi xếp hàng làm thủ tục nhập nội địa, tôi
có lấy quyển sách nhỏ bằng tiếng Anh về đọc. Sách nói
về Chúa Jesus Christ. Ðọc và thấy lòng được bình an. Tôi
tự nhủ thầm là sẽ xin làm Báp têm ở bất cứ Hội
Thánh nào khi đến Mỹ... Kế đó tôi được đưa vô trại
Ft. Chaffee ở Arkansas. Nhưng ngày tháng dài đằng đẳng, lúc
chờ người bảo trợ cho ra khỏi trại Ft. Chaffee, tôi theo một
giáo sư Anh Văn hút thuốc, uống rượu và làm mọi công
tác trong trại. Người thẫn thờ như kẻ điên dại, (Hẳn
các sinh viên và người quen đều nhận thấy như vậy; bây
giờ tôi mới nghĩ biết điều này). Người bạn đồng
nghiệp đã được bảo trợ và ra trại rồi. Chỉ còn tôi
ở lại một mình. Tưởng nghĩ có bằng cấp cao của Mỹ và
độc thân, thế nào cũng có người bảo trợ và ra trại
dễ dàng! Cuối cùng phải nhờ ông bạn đồng nghiệp đó
nhờ người bảo trợ của ông tìm người bảo trợ cho tôi.
Tôi được thơ hồi âm là có một gia đình ở đó, Indiana,
bảo trợ và một gia đình khác sẽ cho việc làm và lái xe
nông trại. Lòng cũng chịu mừng và chờ ngày ra trại!
Trung
tuần tháng Tám đó, ông chủ sự phòng điện toán rời
nhiệm sở mà tôi đang cung phong công tác tại phòng này,
nên có một buổi tiệc nhỏ chia tay. Sau tiệc, được về
sớm. Tôi không đi xe bus về trại như mọi ngày, nhưng đi bộ
trên đường "Catina" của trại. Khi đi ngang qua cửa
một Chapel nọ, tôi thấy ông Mỹ nọ, và ông ấy thấy tôi.
Ông buông rơi sách trên tay và chạy xuống ông choàng lấy
tôi cũng kêu "Thuận!". Tôi bộc thốt lên tiếng mà
tôi đã chưa bao giờ nhớ đến, mãi đến lúc đó,
"Gayle." Ông đưa tôi vào văn phòng và hỏi chuyện.
Hẳn thấy tay tôi không có đeo nhẫn, ông hỏi: "nghe nói
anh đã có vợ rồi phải không?" và ông hỏi tôi có
muốn ở lại Texas không? Ông ở trại đã lâu, tuần tới
sẽ rời trại và về Texas, College Station, để cho các con ông
tựu trường đi học. Hai tuần sau đó tôi được Calvary
Baptist Church tại Baryan bảo trợ và được học tiến sĩ về
thống kê của trường Texas A&M University, College Station. Ngay
tuần đầu tiên trong Hội Thánh Calvary, tôi đã đi lên xin
được Báp Têm. Ông mục sư hỏi lý do. Tôi nói khi đọc
sách về Chúa Jêsus, lúc ở đảo Wake, tôi thấy lòng
được bình an. Sau lễ Báp Têm, tôi đi nhà thờ mỗi sáng
và chiều Chủ Nhật, mỗi tối thứ hai và thứ tư. Lòng tôi
vẫn luôn buồn nhớ vợ, nhớ con, nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ
quê hương xứ sở. Lúc đi nhà thờ cũng không hiểu gì và
không ca Thánh ca được. Ði học ở trường về, ngồi làm
homework cũng không được và chỉ biết khóc nhớ vợ nhớ
con... Lòng nghĩ, chắc chắn sẽ bỏ học mà đi làm.
Khi được
làm lễ Báp Têm hai tháng trước có một người Mỹ trong
nhà thờ cho một quyển sách nhỏ. Tôi bỏ trong túi áo
"vest" và không màng đọc tới. Vào một sáng thứ
bảy của tháng 10 năm 1975 trời Texas đã lạnh. Lòng buồn
thâm thẫm. Ngồi trong nhà "trailer" một mình. Tôi mặc
áo "vest" thường mặc đi nhà thờ, cho đỡ lạnh. Kế
đó, tay cầm và đọc quyển sách nhỏ đó, đã nằm trong túi
non hai tháng rồi. Ðó là quyển "Steps to Peace with God"
của Billy Graham. Say sưa và chăm chú đọc. Rồi tôi theo lời
khuyên của sách đó, tôi cầu nguyện xin Chúa tha tội lỗi
của tôi, và tôi mời nhận Chúa vào lòng tôi làm Chúa
Cứu Thế và Chủ đời tôi. Tôi điền tên và gửi đi để
nhận được báo Decision đọc mỗi kỳ.
Có các điều lạ đã xảy đến cho đời tôi mà tôi đã
nhận biết được. Tôi không còn buồn than khóc lóc vì xa
vợ xa con nữa... Việc học ở trường mỗi ngày một khá
hơn (tôi được chữ B và chữ A trong mỗi lớp học). Một
điều kỳ diệu nhứt mà chính các anh, chị, em trong Hội Thánh
đều nói đến, đó là tôi học Kinh Thánh mỗi ngày mỗi
hiểu hơn một chút ít. Tôi phát biểu ý kiến trong trường
Chúa Nhựt và được anh chị em đều cho là đúng với Kinh
Thánh. Tôi được thấy các việc làm và tư tưởng thuở
trước của tôi là sai, là đầy tội lỗi. Tôi xin Chúa tha
tội cho tôi từng tội một, từ lúc tôi lên ba, lên bốn,
mà tôi được nhớ cho đến lúc gần nhứt. Cuộc đời tôi
đã hoàn toàn đổi mới và khác hẳn với cuộc đời cũ.
Cuộc sống đầy vui hưởng, bình an nội tâm, tư tưởng bình
thản, ham học trong trường cũng thích học Kinh Thánh. Mỗi tối
thứ hai kể từ ngày được tái sanh đó, tôi gia nhập
đoàn chứng đạo và đến gõ cửa ba, bốn nhà mỗi đêm.
Chứng kiến nhiều người tin nhận Chúa nên lòng luôn
được hớn hở ca ngợi Chúa không thôi.
Nhìn kỷ từng chi tiết, tôi thấy bàn tay của Chúa Trời
trong mọi sự trong đời tôi. Lúc lên mười hai mười ba, vì
tư tưởng gì đó, tôi ngừng xe đạp và đấm ngực để
thốt ra lời: lỗi tại con! Lỗi tại con! Chúa đã luôn kêu
gọi, soi dẫn, dù chưa được kiến thức gì về lời của
Ngài. Sống trong môi trường văn hóa cổ truyền, Tin Lành
của Ngài quả thật khó đến với kẻ hèn như tôi. Tôi đã
chân thành có niềm tin. Một niềm tin tôi đã từng nghĩ là
hay nhứt. Ðức tin thành thật đó không đưa đến đâu cả
mà trái lại là một cản trở lớn lao cho lẽ thật của
Thượng Ðế đến với lòng mình. Rồi đời trôi chảy. Ðịnh
kiến càng kiên trì. Kiên trì đến nỗi dù chính lời của
Ngài có đến chính mình, dù có tôi tớ của Ngài có săn
sóc đời mình, dù có đi Nhà Thờ học Kinh Thánh, nghe
thuyết giảng, lòng cũng không chịu mở ra để đón Thần Lẽ
Thật. Chỉ có tha hương, chỉ có mất tất cả ràng buột vô
hình và hữu hình của đời mình, chỉ có đang bị chết hụt
trong biển sóng, lòng của mình mới chịu mở rộng để đón
nhận Tin Lành của Chúa Cứu Thế Giê-xu Christ. Quả thật,
lời Ngài không trở lại luống không! Giờ, tư tưởng mới
được mở rộng, trao đổi và mới nhận thức rằng: Ngài
quả thật là đường đi, lẽ thật, và sự sống duy nhứt.
Chẳng có ai có thể cứu khỏi biển tội lỗi của mình mà
không nhờ đến Ngài. Ngài quả thật là Chúa Cứu Thế của
thế gian và của chính cá nhân mình. Khi đọc đến Giăng
đoạn ba, tôi mới biết tôi đã được tái sanh và khi đọc
đến Giăng 14-17, tôi mới biết chính Chúa Thánh Linh đã vào
lòng tôi và đã luôn cai trị đời tôi, ở cùng tôi đời
đời kiếp kiếp.
Trường hợp cá nhân tôi, có là kẻ tha hương, mới có
niềm tin chân thật trên trái đất này. Ðó là do sự
thương xót của Chúa Trời Chí Cao, Toàn Năng, Hằng Hữu,
Hiện Hữu. Ðó là nhờ tình yêu cao cả của Chúa Giê-xu
Christ chết trên thập tự giá, sống lại, ngồi bên hữu của
Chúa Cha, sai Chúa Thánh Linh đến cảnh cáo: tội lỗi sự
công chính, và sự đoán phạt. Nay, chúng tôi biết rằng mọi
sự hiệp lại làm ích cho kẻ kính sợ Chúa Trời, cho kẻ
được gọi theo ý muốn Ngài đã định. Chính Ngài, Ðức
Chúa Trời: Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Linh, ban niềm tin
cho người Việt tha hương.

Mục sư Lý Công Thuận nguyên là giáo sư Thống Kê Ðại
Học Ðà Lạt, Trường Chính Trị Kinh Doanh và Giáo Sư Toán
Học và Trưởng Ban Toán Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt
Việt Nam, Ðà Lạt. Sau khi di tản năm 1975, ông định cư ở
Texas, và theo học chương trình Tiến Sĩ Toán, và trong khoảng
thời gian đó ông tiếp nhận Chúa Giê-xu làm cứu Chúa đời mình. Năm 1980 ông hoàn tất chương trình Ph. D
về thống kê học (Statistics) và hầu việc Chúa với người
Việt Nam. Ông đã theo học trường thần học Capital Bible
Seminary. Sau khi làm việc với NASA Lockheed, tại Houston, ông dời
về Hoa Thịnh Ðốn, và làm quản nhiệm Hội Thánh Báp Tít
thứ nhứt Việt Nam tại Lanham, Maryland. Ông hiện đang làm
việc với Bureau of Statistics của chính phủ Hoa Kỳ. Gia đình ông
gồm có vợ là bà Châu Nguyệt Hồng, nguyên Giáo Sư Kế
Toán Trường Chính Trị Kinh Doanh và một con gái là Eliazar Lý
Công Thuận, cả hai đều đã tin nhận Chúa Giê-xu làm Cứu
Chúa của đời mình.
|
|