Trang Của Liên Ðoàn Nam Giới

Tình Yêu Giáng Thế

Trong quyển ‘‘Cầm Ca Việt Nam’’ của Toan Ánh ở mục ‘‘Những giọng hát trao tình’’ có viết: Tại miền Bắc có ba lối hát trao tình, chính là hát ví, hát quan họ và hát trống quân, rồi từ những giọng hát chính này nó biến thể ra những giọng hát khác. Hát ví là giọng hát để làm quen mà cũng là giọng hát để đôi bên lưu luyến nhau, và có một bài hát ví như thế này:

Mình về ta chẳng cho về,
Ta nắm cổ áo ta đề câu thơ.
Bài thơ ba chữ rành rành,
Chữ ‘‘trung’’ chữ ‘‘hiếu’’ chữ ‘‘tình’’ là ba.
Chữ trung thì để thờ cha,
Chữ hiếu thờ mẹ đôi ta chữ tình.

Bài hát trên nói đến ba chữ: trung, hiếu, tình. Trong Kinh Thánh ở sách I Cô-rinh-tô đoạn 13 câu 13 cũng có nói đến ba, nhưng không phải ba chữ, mà là ba điều: ‘‘Nên bây giờ còn có ba điều này: đức tin, sự trông cậy, tình yêu thương; nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là tình yêu thương.’’

Tình yêu thương chiếm một vai trò quan trọng trong cuộc sống con người. Thiếu tình yêu cuộc sống trở nên vô nghĩa, cuộc đời mất vui tươi, cảnh vật chung quanh trở nên u ám, vì ‘‘người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!’’

Từ vạn cổ, tình yêu đã đi vào tâm hồn của con người. Yêu thương là từ ngữ rất quen thuộc, là đề tài thường gây nhiều sôi nổi. Yêu thương là chủ đề đã viết thành văn, đã vào trong ý thơ, đã phổ thành dòng nhạc. Yêu thương là lẽ sống, là tiếng gọi thân thương, là giấc mơ, là niềm ao ước của mọi người. Nên có thể nói, sống mà không biết yêu như đời không biết thở.

Erich Fromm, nhà tâm lý học, triết gia, và tác giả của The Art of Loving, bảo rằng: ‘‘Tình yêu là đề tài được bàn thảo nhiều nhất và hiểu ít nhất trên thế gian này. Người ta nói về nó, kể những câu truyện về nó, và hiểu nó ít hơn bất cứ đề tài nào.’’ Nhưng dẫu sao tình yêu bao giờ cũng đẹp, và nó đẹp thật, đã làm ngây ngất bao lòng người, đến nỗi...

Làm cho quên cửa quên nhà,
Làm cho quên cả đường ra lối vào.
Làm cho quên cá dưới ao,
Quên sông tắm mát quên sao trên trời.

Có thể nói rằng một trong những ngôn từ đáng yêu nhất, và là quà tặng quý báu nhất mà Ðức Chúa Trời dành cho con người chính là tình yêu. Con người không thể sống nếu không có tình yêu, và xã hội sẽ bị hủy diệt nếu tình yêu không hiện hữu. Chẳng hạn, mất tình yêu cha mẹ, tình yêu vợ chồng, tình yêu bè bạn, tình yêu quê hương, tình yêu tha nhân, v.v... xã hội con người không thể tồn tại được. Và thật vậy, nên Tourgueniev đã có lần viết: ‘‘Tình yêu là cái duy nhất giữ cho cuộc sống đứng vững và phát triển.’’

Vâng, dù sao tình yêu cũng vẫn là nhu cầu rất thiết thực của con người. Vì dù rằng, chúng ta phải cần cơm nước, quần áo, và nhà cửa để sống, nhưng chúng ta cũng cần có đối tượng để yêu và cũng muốn được yêu nữa. Xuân Diệu, một thi sĩ của chúng ta đã viết:

Làm sao sống được mà không yêu,
Không nhớ không thương một kẻ nào.

Disraeli bảo: ‘‘Tất cả chúng ta đều được sinh ra để yêu... Ðó là nguyên lý của cuộc sinh tồn, đồng thời cũng là cứu cánh duy nhất của đời người.’’ Phải nói, tình yêu là một trong những yếu tố và chất liệu ngọt ngào nhất để xây dựng hạnh phúc cho cuộc sống của cá nhân, của gia đình và của xã hội. Tình yêu chính là sợi dây thiêng liêng vô hình nhưng rất hiện thực để kết chặt cuộc sống con người.

Tuy nhiên, yêu là một danh từ trừu tượng. Ðã là danh từ trừu tượng, ta không thể hiểu được tình yêu qua một định nghĩa. ‘‘Làm sao cắt nghĩa được tình yêu’’ phải không? Do đó, sự thể hiện tình yêu bày tỏ qua hành động là điều kiện cần có và phải có để chúng ta hiểu cường độ của tình yêu. Chẳng hạn, trong pho truyện cổ tích Việt Nam, nàng công chúa Tiên Dung, con vua Hùng Vương thứ 13 đã minh chứng tình yêu của nàng cho chàng Chữ Ðồng Tử nghèo nàn bằng cách lìa bỏ ngai vàng và mọi vinh hoa phú quý để kết hôn cùng chàng. Thánh Phao-lô trong thư gửi cho các tín hữu tại thành Phi-líp đoạn 2 câu 6 đến câu 8 viết về Chúa Giê-su rằng: ‘‘Ngài vốn có hình Ðức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Ðức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.’’

Ðây thật rõ ràng rằng, sự giáng thế làm người của Chúa Giê-su là một hành động minh chứng cho một tình yêu. Qua sự giáng sinh của Ngài mà dòng lịch sử của nhân loại chia hai, mở ra một kỷ nguyên mới đem lại niềm vui và hy vọng chung cho thế giới.

Kinh Thánh cho ta thấy tình yêu mà Ðức Chúa Trời ban cho con người thật trọn vẹn. Ðức Chúa Trời tạo dựng và tác hợp con người lại với nhau. ‘‘Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn. Rồi, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết’’ (Sáng Thế Ký 2:15-17). Nhưng rồi vì lơ là, nên con người nghe theo lời dụ dỗ ngon ngọt của rắn là giống quỉ quyệt hơn hết, mà toa rập với nhau bất tuân mạng lệnh của Ðức Chúa Trời. Con người ăn trái cấm, là trái của cây mà Ðức Chúa Trời đã ra mạng lệnh là đừng ăn. Một trái, hai trái, ba trái trên cây ấy không nghĩa lý gì đối với Ðức Chúa Trời, nhưng điều làm cho Ngài buồn là con người đã bất tuân, làm theo ý riêng, trái với mạng lệnh Ngài. Do đó, xảy ra điều đáng tiếc gây tai hại cho những thế hệ về sau của con người. Kinh Thánh chép: ‘‘Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội...’’ (Rôma 5:12).

Phạm tội với Chúa con người phải chịu án phạt về tội của mình. Vì thế mà có sự chết, không phải chỉ chết một đời xác thịt này thôi, mà linh hồn của mình đời đời cũng bị hư mất nữa. Ấy là vấn đề mà nhân loại đã và đang phải đối diện! Con người không ai có thể cứu được mình, hay có thể cứu được kẻ khác, ngay cả không thể nào thay đổi tình trạng của nhau cho tốt hơn mặc dù có muốn như thế nào chăng nữa.

Ai đọc lịch sử Âu Châu và Anh Quốc vào mấy năm trước Thế Chiến Thứ Hai cũng đều biết rằng nữ công tước Windsor, tên thật là Bessie Wallis Warfield Spencer Simpson là người đã làm cho vua Edward VIII của Anh Quốc phải rời bỏ ngai vàng vào năm 1936, và nhường ngai lại cho em trai là vua George VI. Vua George VI là cha của Elizabeth Ðệ Nhị, hiện nay là nữ hoàng Anh Quốc.

Chưa đầy một năm sau khi nữ công tước Windsor qua đời, người ta đã làm theo đúng di chúc, đem bán đấu giá khoảng 300 món nữ trang bà để lại và lấy số tiền thu được vào khoảng 7 triệu đô la, đem tặng cho viện Pasteur ở Paris, Pháp Quốc. Trong số các món nữ trang này có một cái nhẫn kim cương trên 31 cara, một cái vòng đeo tay hình con báo cũng nạm kim cương và nhiều món nữ trang độc đáo khác.

Tạp chí Newsweek, số ra vào hạ tuần tháng 3 năm 1987 có đăng hình một vài món nữ trang của nữ công tước Windsor với lời phê bình rằng: ‘‘Công tước Windsor, tức là cựu hoàng Edward VIII đã tặng cho người mình yêu nhiều món quà rất quý giá để tỏ tình yêu chung thuỷ, nhưng có một điều công tước không thể nào làm được, là việc làm cho nữ công tước Windsor trở thành hoàng hậu Anh Quốc.’’

Lịch sử ghi chép rằng: Edward VIII lên ngai trong khi Anh Quốc còn là đế quốc giàu mạnh nhất thế giới, nhưng vì người yêu của nhà vua trước đã có chồng và ly dị, nên nhà vua buộc phải lựa chọn giữa ngai vàng và người yêu. Nếu muốn giữ ngai vàng thì phải đoạn tuyệt với người yêu, nếu muốn giữ người yêu thì phải thoái vị. Rốt cuộc ông vua si tình đó đã chọn tình yêu, rời bỏ ngai vàng và chỉ có thể làm cho người yêu trở thành nữ công tước Windsor chứ không thể nào cho bà trở thành hoàng hậu Anh Quốc được.

Nói cách khác, dù đã ngồi trên ngai một đế quốc hùng cường vào bậc nhất thế giới thời đó, Edward VIII không có cách nào xoá sạch quá khứ của người yêu để biến quá khứ ấy trở thành một quá khứ trong trắng. Chúng tôi không có ý nói rằng, quá khứ của người ly dị là đen tối, hay quá khứ của người không ly dị là không đen tối, vì theo tiêu chuẩn thánh thiện tuyệt đối của Ðức Chúa Trời, đã sinh ra làm người thì ai cũng như ai: Vua cũng như dân, người giàu cũng như người nghèo, người có học cũng như người thất học, người độc thân cũng như người có gia đình, người ly dị cũng như người không ly dị. Lời Kinh Thánh chép rằng: ‘‘Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời,’’ và ‘‘chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không,’’ mà ‘‘tiền công của tội lỗi là sự chết’’ (Rô-ma 3:23,10; 6:23a).

Do đó, không cách nào hơn, muốn cứu loài người ra khỏi tội thì chỉ có một cách, là Chúa Cứu Thế tình nguyện xuống thế làm người hi sinh lãnh lấy địa vị tội lỗi của chúng ta và chịu hình phạt thay thế cho chúng ta trên cây thập tự. Ðó là giải pháp cứu rỗi độc nhất của Ðức Chúa Trời cho nhân loại, Ðấng vô tội chết thay cho người tội lỗi. Chỉ có giải pháp ấy mới đem lại cho chúng ta sự tha thứ trọn vẹn và sự đổi mới hoàn toàn.

Trong những ngày nội chiến Nam Bắc của nước Mỹ cách đây hơn một trăm năm, một đại uý của quân đội miền Nam bị bắt và bị tuyên án tử hình bởi vị tướng của quân đội miền Bắc. Khi cuộc hành hình vị đại uý bắt đầu thì một tiếng la vang lên: ‘‘Làm ơn, xin đừng giết đại uý của tôi! Tôi xin chết thế. Chúng tôi sống trong cùng tỉnh và tôi biết vị đại uý này rất rõ. Ông ta có vợ và con cái chờ đợi ở nhà, nhưng tôi không có ai hết. Làm ơn, xin cho tôi chết thế!’’ Vị tướng nhìn người lính trẻ này với lòng cảm động và kính phục. Ông ta chấp nhận lời yêu cầu và người này đã chết thế cho vị đại uý kia. Sau chiến tranh, vị đại uý được trả tự do về với gia đình.

Thời gian sau nhà Truyền đạo Billy Sunday có dịp đến tỉnh nhỏ nơi vị đại uý ở, trong một chiến dịch truyền giảng Tin Lành. Vị đại uý đó được mời tới tham dự. Nhà Truyền đạo nói về sự chết của Chúa Giê-su; Ngài đã trả giá chuộc, chết thay cho tội lỗi nhân loại và nhờ đó nhân loại được cứu nếu tin nhận Ngài. Nghe điều này, vị cựu đại uý hồi tưởng lại kỷ niệm xa xưa. ‘‘Chúa Giê-su cũng giống như người lính xưa kia, đã xin chết thế cho ông và nhờ đó ông được sống đến bây giờ.’’ Ông nghĩ đến điều này với lòng cảm xúc,nước mắt nhạt nhòa. Sau đó, ông tin nhận Chúa và bắt đầu sống một đời sống mới trung tín trong Chúa.

Thánh Kinh chép rằng, Chúa Cứu Thế Giê-su không những chỉ chịu chết để đền tội thay chúng ta thôi, như nghĩa cử can đảm phi thường đáng khâm phục của người lính trẻ kia đã liều mình hy sinh chết thay cho viên đại uý, nhưng mà Ngài còn sống lại, vì nếu Chúa Cứu Thế Giê-su chết đi mà không sống lại, chúng ta không thể nào được Ðức Chúa Trời tiếp nhận.

Thông thường, ít thấy ai chịu chết cho ngư��i công chính, hiền lương, nhưng dù sao, nghĩa cử ấy còn có thể xảy ra. Nhưng Ðức Chúa Trời đã chứng tỏ tình yêu của Ngài đối với chúng ta, khi Chúa Cứu Thế Giê-su chịu chết thay chúng ta là người tội lỗi. Thật là một tình yêu có một không thôi trong lịch sử nhân loại! Mikenlangelo bảo: ‘‘Tình yêu là đôi cánh mà Ðức Chúa Trời ban cho tâm hồn để bay lên cao tới Người.’’

Vâng, bởi tình yêu của Chúa mà mỗi chúng ta mới có thể tìm lại được con đường trở về hoà thuận với Ðức Chúa Trời! Và chỉ có Chúa Cứu Thế Giê-su mới có thể chết đền tội thay cho chúng ta, vì chỉ có Ngài là Ðấng vô tội, không ở trong chỗ chết vì tội lỗi như chúng ta, nhưng đã tình nguyện dấn thân vào địa vị của chúng ta để chịu chết và rồi sống lại để chứng nhận chúng ta là người công chính trước mặt Ðức Chúa Trời. Ngoài ra, nếu Chúa Cứu Thế Giê-su chỉ chịu chết mà không sống lại thì Ngài cũng chẳng hơn gì các giáo chủ, các vị sáng lập các tôn giáo, là những người đã chết và chết luôn. Sự sống lại của Chúa Cứu Thế Giê-su chứng minh Chúa đã chết trong địa vị tội lỗi của chúng ta, đã chiến thắng tội lỗi và tử thần, đã mở cho chúng ta con đường sống dẫn đến Ðức Chúa Trời, đã bảo đảm cho chúng ta địa vị công chính thánh thiện là địa vị của chính Chúa Cứu Thế.

Do đó, Giáng Sinh là thời điểm không phải để chúng ta chỉ lo bận rộn với những món quà Giáng Sinh và tập trung cho các việc mang tính chất hình thức bên ngoài, nhưng là những giây phút thiêng liêng và quý báu nhất để chúng ta suy ngẫm về tình yêu và sự hy sinh cao quý của Chúa Cứu Thế Giê-su. Thật vậy, trung tâm điểm của Giáng Sinh chính là sự nhập thể của Chúa Cứu Thế, đây là hành động hy sinh cao cả nhất mà Ðức Chúa Trời đã thể hiện tình yêu của Ngài cho nhân loại.

Vì vậy, mùa Giáng Sinh là một mùa vui mừng. Vui mừng không phải vì những bữa tiệc tùng, những giờ phút lựa chọn quà Giáng Sinh tại các shopping đầy nhộn nhịp, hoặc những ngày nghỉ được kéo dài cho đến tận đầu năm mới. Nhưng Giáng Sinh là thời điểm để mỗi chúng ta tạ ơn Thiên Chúa vì một con đường sống đã được Ðức Chúa Trời khai mở cho nhân loại. Cho nên, Giáng Sinh năm nay, mong ước rằng quý vị mở lòng ra tiếp nhận món quà Giáng Sinh cao quý này, tức là chúng ta đón nhận tình yêu Thiên Chúa giáng thế làm người vì mỗi chúng ta, hầu chúng ta vui hưởng được niềm vui và phước hạnh rồi sẽ đi với chúng ta trong suốt cuộc đời này và luôn mãi đến mai sau nữa. 

Mục sư Ức Chiến Thắng