Nếu quí vị cũng có các cảm nghĩ như trên thì quí vị có
thể thấy rằng nên nhìn lại vai trò của quản nhiệm trong
công tác mục vụ của quí vị.
Từ ngữ quản nhiệm được thấy vài lần trong Tân Ước
và được dịch từ một từ ngữ Hy-lạp--ngữ căn của nó
nghĩa là "người lái tàu thuỷ." Người lái tàu là
một người cần thiết trên tàu. Nếu không có người lái
định hướng cho con tàu đi thì chiếc tàu nhứt định không
thể dùng được dù cho con tàu đó có giá trị đi biển
đến đâu. Con tàu đó có thể có nhiều khoang để chở
được nhiều đồ đạc, một sống tàu để có thăng bằng,
và một chiếc buồm vững chắc để đưa tàu đi. Nhưng nếu
không có bàn tay của người lái tàu đặt trên bánh lái
thì con tàu sẽ bị gió và sóng dập vùi.
Nằm bên trong từ ngữ quản nhiệm có một từ ngữ khác:
người làm mục vụ. Chúng ta biết người làm mục vụ là
ai, dù cho chúng ta có gọi họ là mục sư, thầy tế lễ,
trưởng lão, hoặc hàng giáo phẩm. Dù vậy, những gì mà
một người làm mục vụ làm là một chuyện khác, tùy theo
quí vị đang nói về người nào. Ðơn giản là vì vai trò của
người làm mục vụ không được định nghĩa rõ ràng như
chúng ta muốn. Sự tảng mạn đó có thể làm cho các người
làm mục vụ thất vọng hoặc giận. Những cảm xúc như thế
có làm cho xuống tinh thần và mất vui trong công tác, và
điều nầy tới phiên nó có thể đưa đến việc bị chấm
dứt nhiệm vụ hoặc sự mòn mõi.
Sự xung đột trong các vai trò của mục sư thường bắt
nguồn nhiều nhứt từ các vọng tưởng không thực tế và
không rõ ràng
Thường thì các vai trò của mục sư được chia làm hai
nhóm riêng biệt: (1) Những vai trò truyền thống về thần học
và về nghi lễ thờ phượng, và (2) Những vai trò hiện đại
về quản trị và tổ chức.
Các sinh hoạt của vai trò truyền thống gồm có:
* Chuẩn bị bài giảng và giảng.
* Hướng dẫn thờ phượng.
* Làm các thánh lễ.
* Làm các lễ nhà thờ (cưới, tang, v.v..)
* Thăm người bịnh, cố vấn và chăm sóc người làm tổn
thương và bị tổn thương.
* Dạy Kinh Thánh và huấn luyện người mới tin.
Các sinh hoạt của vai trò hiện đại gồm có:
* Quản lý và trông nom - với vai trò là người lèo lái
giáo dân.
* Ðặt sách lược, kế hoạch và lãnh đạo các chương
trình và sinh hoạt của nhà thờ.
* Ðặt ngân sách; quản lý tài chánh.
* Bảo quản khuôn viên nhà thờ.
* Ðặt mạng lưới hoặc liên hệ với các tổ chức ngoại
vị của nhà thờ.
* Tuyển, động viên, và huấn luyện nhân viên và những
người lãnh đạo Hội Thánh.
Nếu quí vị yêu cầu các người làm mục vụ nêu lên các
nhân tố nào đóng góp nhiều nhứt vào một hội chúng tích
cực thì điển hình là họ sẽ nêu lên các điểm nằm trong
bảng liệt kê đầu. Các trách nhiệm liên hệ đến quản trị
và tổ chức gần như là luôn luôn được kể đến với
những điểm số phần trăm thấp nhứt trong cuộc thăm dò ý
kiến. Thế mà khi quí vị hỏi các người làm mục vụ rằng
các phần nào của công việc của họ chiếm hầu hết thì
giờ của họ, thì quản trị và tổ chức hầu như là luôn
luôn được kể đến. Thật vậy, hầu hết các người làm
mục vụ ước lượng rằng từ 50 đến 60 phần trăm của
tuần lễ được dùng hết vào các việc quản trị. Một số
thì báo cáo với con số cao hơn.
Xung Ðột Trong Các Vai Trò
Thường có một sự tương phản giữa trực giác của mục
sư về các nhân tố nào tạo nên một mục vụ kiến hiệu và
các phần việc nào mà họ phải làm để có thể kiến hiệu.
Sự tương phản đó tạo nên một tình trạng tiến thoái
lưỡng nan. Các người làm công tác mục vụ không thể đơn
giản tập trung vào các đòi hỏi cá nhân của họ về vai
trò mục vụ. Trái lại, họ phải xem xét các đòi hỏi mà
hội chúng hoặc đôi khi ngay cả hàng giáo phẩm khác áp
đặt lên họ (chẳng hạn như là các chức sắc của giáo
phái).
Sự xung đột trong các vai trò của mục sư thường bắt
nguồn nhiều nhứt từ những vọng tưởng không thực tế
và không rõ ràng. Ðó là lý do tại sao tôi thường nói
với các sinh viên và các đồng nghiệp sắp nhận chức vụ
mục vụ rằng họ phải chắc rằng họ hiểu rõ nội dung của
chức vụ - dĩ nhiên, trừ khi họ thích thú nhón gót đi qua
trong một bãi mìn nguy hiểm.
Các cuộc nghiên cứu đã liên tục cho thấy rằng các mục
sư thường tin rằng các sự đòi hỏi của các giáo dân là
nguồn lớn nhứt gây nên sự tranh chấp vai trò. Tranh chấp
có thể xảy ra khi có mặt những điều kiện khác nhau:
* Khi các công tác mục vụ không được xác định rõ
rệt, dù cho các giáo dân mong muốn có các công tác đó.
* Khi các mục sư và / hoặc các giáo dân không thấy
được vai trò của các người làm mục vụ là lãnh đạo
việc chấp hành.
* Khi các mục sư phải tập trung vào việc làm vui lòng một
hệ thống hàng giáo phẩm tập trung của giáo phái -- làm hại
đến việc thỏa mãn các đòi hỏi của hội chúng.
Các mục sư trẻ và ít tự tin hơn thì thường gặp phải
sự tranh chấp lớn hơn về vai trò. Một số các nhà nghiên
cứu cho rằng phần lớn của sự tranh chấp gắn liền với
các vai trò quản trị và tổ chức có thể được xem như là
do bỡi hầu hết các mục sư mới đã không được huấn
luyện về mặt này hoặc ngay cả không hiểu được tại sao
các kỷ năng đó cần thiết cho mục vụ. Nếu không hiểu
được điều đó thì họ không có thấy mình cần phải học.
Nhiều sinh viên mục vụ tốt nghiệp các trường nghiệp vụ
với đầy đủ chức năng thấy mình là người giảng đạo,
thầy tế lễ, thầy dạy, hoặc mục sư. Nhưng họ thường ít khi
thấy mình là một người quản trị hoặc người tổ chức.
Hầu hết các trường đào tạo về mục vụ nhấn mạnh
việc tiếp thu các truyền thống tôn giáo và nhấn mạnh sự
hình thành thuộc linh của cá nhân. Ðiều đó có thể hoặc
không có bao gồm năng lực về thể thức làm việc trong các
kỷ năng đó. Có trường thì cố gắng khơi dậy sự hiểu
biết xã hội. Nhưng mà ít khi chương trình huấn luyện bao gồm
các trách nhiệm quản trị giáo dân hằng ngày, mặc dù các
cuộc nghiên cứu có cho thấy rằng đó là các trách nhiệm
mà các người làm mục vụ trẻ tuổi sẽ để phần lớn thì
giờ của họ vào trong đó.
Sự Thỏa Lòng trong Công Tác Mục Vụ
Các mục sư trẻ và các mục sư đã được huấn luyện
ở các thần học viện thường có khuynh hướng đi theo các
vai trò truyền thống và thần học. Ðó là những vị đã
báo cáo rằng họ ít được thỏa lòng trong mục vụ. Các
cuộc nghiên cứu cho thấy rằng các mục sư nào sẵn lòng coi
các trách nhiệm quản trị và tổ chức như là một bộ phận
cần thiết của mục vụ của họ thì họ thỏa lòng hơn trong
công tác của họ. Họ thường làm công tác lâu dài hơn
và thấy mình thành công.
Trong một cuộc nghiên cứu, các mục sư được yêu cầu
đánh giá một loạt các công tác liên hệ đến các vai trò
và được yêu cầu cho biết các công tác nào đã cung cấp
tinh thần tích cực trong nghiệp vụ. Kết quả cho thấy là các
công tác quản trị đã gây khó khăn cho tinh thần làm mục
vụ, chính yếu là vì hai lý do: (1) Các người làm mục vụ
đã thất vọng vì thấy mình không đủ khả năng để làm
các công tác quản trị cho kiến hiệu; (2) Các người làm
công tác mục vụ đã thất vọng vì các công tác quản trị
đã chiếm nhiều thì giờ khiến cho họ không thể hoàn thành
các công tác mà họ cho là quan trọng hơn -- các vai trò
truyền thống về thần học và về nghi lễ thờ phượng của
người làm mục vụ.
Người Sống Sót
Tập San Christianity Today (Tháng Ba 1982) có bàn về sự gia
tăng bất ngờ của các trường hợp bãi chức trong một
giáo phái lớn kia. Bài báo cho biết rằng phần lớn sự gia
tăng bãi chức đó và sự ra đi khỏi mục vụ là do sự
quá mệt mỏi hoặc do những tranh chấp giữa người làm mục
vụ và hội chúng và đòi hỏi quản trị. Bài báo đã ghi
nhận rằng người làm mục vụ mà biết phát triển các kỷ
năng quản trị và tổ chức càng khéo thì càng ít khi bị bãi
chức. Chìa khóa của sự sống sót trong công tác mục vụ
là khả năng phát triển các người lãnh đạo, xây dựng
sự nâng đỡ và hoàn thành được một sự đồng thuận
về các mục tiêu, các tiêu chuẩn và các giá trị của Hội
Thánh -- những chức năng quản trị.
Thế thì người mục sư phải làm gì? Có ít ra là hai
điều:
1) Công nhận cái truyền thống.
Khỏi phải nói, các vị làm mục vụ trước hết nên
được xem là những chuyên gia về thần học và về nghi lễ
thờ phượng. Các chức năng chính yếu của họ nên tập
trung vào việc hiểu biết, giải thích, tán dương và áp dụng
các giềng mối của đức tin và hội thánh.
2) Chấp nhận vai trò mới.
Lại nữa các người làm mục vụ phải nhìn nhận rằng
các vai trò thực sự của họ vượt quá các nhiệm vụ
thuộc thần học và các nghi lễ thờ phượng. Xã hội đã
thay đổi; thêm có nhiều hội chúng trông cho các mục sư
đảm nhiệm các vai trò thực hành và thực tiển của một
người lèo lái. Các trách nhiệm quản trị và tổ chức nên
có tích cách hệ luận tất yếu và không bao giờ thay thế vai
trò chủ yếu của các mục sư, nhưng chúng đã trở nên
thiết yếu cho sự sống còn của các mục sư.
Có thêm điều chi cần phải làm? Các viện thần học và
các trường đại học Thánh Kinh có thể làm việc nhắm thêm
vào chương trình giảng huấn thực hành nhằm giúp cho các vị
đang chuẩn bị đi vào mục vụ phát triển được các kỷ
năng quản trị và tổ chức. Các nơi đó có thể cập nhật
hoá các chương trình của mình để cung cấp những kinh nghiệm
học hỏi nào sẽ có thể cải tiến ý thức về sự kiến
hiệu và sự thành thạo trong quản trị. Phải thực hiện cho
được một sự cân bằng giữa huấn luyện vai trò truyền
thống và vai trò hiện đại.
Nếu có một học sinh trung học đến gặp tôi hôm nay và cho
biết rằng mình được sự kêu gọi để phục vụ toàn thời
gian như là một mục sư, thì tôi sẽ khuyên học sinh đó đi
học đại học để có bằng tốt nghiệp về kinh doanh hoặc
quản trị -- và không học môn nào về tôn giáo. Trong viện
thần học, trên 95 phần trăm môn học của sinh viên đó sẽ
là chuẩn bị cho vai trò truyền thống của người làm mục vụ
-- thần học và lễ nghi nhà thờ. Ít hơn 5 phần trăm các
môn sẽ trang bị cho người sinh viên những gì mà người ấy
cần để làm trong giáo dân liên hệ đến việc quản trị
hiện đại mỗi ngày -- những gì sẽ giúp cho người sinh viên
trở nên một vị mục sư sống còn.

Tiến sĩ Robert H. Welch là giáo sư phụ tá về quản trị tại
Viện Thần Học Báptist Tây Nam ở Fort Worth, Texas -
Chuyển Ngữ: Giáo sư Trần Huệ