NHỮNG HUYỀN THOẠI VỀ ÐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI


Ðồng tính luyến ái chiếm 10% dân số.

Con số này lấy ra từ sự nghiên cứu sai lạc của Alfred Kinsey khoảng thập niên 1950. Dù sự kiện Alfred Kinsey chỉ là một nhà nghiên cứu ngành sâu bọ, (entomology) không ai thắc mắc về sự thiếu khả năng chuyên môn của ông nhưng còn dùng nó dọn đường cho cuộc cách mạng sinh lý của thập niên 1960. Con số thổi phồng này cần thiết cho nhóm người cổ động đồng tính luyến ái. Vì hễ tỉ lệ càng cao thì số người đại diện càng đông, họ càng dễ dàng đòi hỏi nhiều quyền lợi chính trị và xã hội.

Phần lớn nghiên cứu của Kinsey bị cho là thiếu chính xác nếu không muốn nói là hoàn toàn bị bác bỏ. Những nghiên cứu mới nhất và đáng tin cậy nhất đồng ý chỉ có khoảng 1%-4% người đồng tính luyến ái. Và nhóm cổ động đồng tính luyến ái âm thầm công nhận tỉ lệ rất thấp này thay vì rầm rộ tuyên bố như khi chụp lấy tỉ lệ cao hơn nhưng sai lầm lúc trước.

Ðồng tính luyến ái là tình trạng bẩm sinh.

Trong khi nhóm cổ động đồng tính luyến ái tuyên bố khoa học chứng minh đây là tình trạng bẩm sinh, không có bằng chứng cụ thể nào hổ trợ cho giả thuyết này. Thay vào đó, tất cả mọi nghiên cứu cho thấy mọi "lý luận khoa học" đi đến kết luận đồng tính luyến ái là bẩm sinh thật ra đều phản khoa học.

Huyền thoại này quan trọng đối với những người cổ động đồng tính luyến ái vì như thế xã hội sẽ không có lý do gì để coi họ là khác thường.

Nhưng trên phương diện tâm linh, chúng ta phải nhìn nhận có một chút sự thật trong suy nghĩ này. Ðồng tính luyến ái chỉ là một trong nhiều thể hiện của một tâm linh bịnh hoạn, tình trạng thuộc linh bẩm sinh của mọi người. Chúng ta ai nấy đều sinh ra trong tội lỗi và tội lỗi là tình trạng tự nhiên của con người. Vì bẩm sinh là tội lỗi, Chúa Giê Xu đã chấm dứt vấn đề bằng cách khẳng định rằng con người phải được sinh lại.

Chúa Giê Xu không hề đề cập đến đồng tính luyến ái.

Một số người dùng lý do này để biện minh cho lối sống của họ. Dĩ nhiên là Chúa biết đến tệ trạng này vì luật Môi Se có lên án rõ ràng và trong xã hội La Mã đương thời không phải hiếm có. Nhưng khi giảng dạy về hôn nhân, ly dị, luân lý, chưa bao giờ Chúa gợi ý coi đồng tính luyến ái như một cách sống , và Ngài luôn luôn nhấn mạnh sự liên kết thánh khiết duy nhất giữa một người nam và một người nữ là chương trình tốt đẹp của Ðức Chúa Trời từ buổi sáng thế.

 

Một người có thể vừa là người đồng tính luyến ái vừa là tín đồ Ðấng Christ.

Câu này thường được những người hiểu biết rất ít hoặc không hiểu chi cả về lịch sử và tín lý Cơ Ðốc Giáo đề cập đến. Càng khó giải thích hơn khi những người nói câu này là người được trưởng dưỡng trong một gia đình BápTít, đã xưng nhận đức tin và sinh hoạt lâu năm trong hội-thánh. Kinh thánh không nói rằng người tin Chúa sống đời hoàn toàn thánh thiện. Tín đồ vẫn có thể bị phạm tội. Tuy nhiên, không ai vẫn cứ phạm tội mà không bị Ðức Thánh Linh cáo trách và Ðức Chúa Trời sửa phạt. Một người có thể vừa là người đồng tính luyến ái vừa là người có đạo, nhưng vừa là người đồng tính luyến ái, vừa là tín đồ với tâm hồn bình an trước mặt Chúa là chuyện không bao giờ có. Còn ai nói mình ở trong tình trạng đó thì người ấy có lý do chính đáng để tự hỏi lại, tự xét lại giá trị niềm tin của mình.

Những người đồng tính luyến ái tự chọn cách sống này.

Ít có lời nào gây nguy hại cho việc đem người đồng tính luyến ái trở lại đời sống bình thường bằng lời này. Khi nghe lời phát biểu này, người đồng tính luyến ái nghĩ rằng chúng ta cho họ là người chịu trách nhiệm về những ham muốn đồng tính. Rất nhiều người phải đối diện với những thử thách, cám dỗ đồng tính luyến ái vì những quyết định kém khôn ngoan khi sống, nhưng không phải ai cũng rơi vào cạm bẫy và phạm tội mà không cố gắng cưỡng lại, chống lại những ham muốn đó.

Người tín đồ cần phân biệt rõ ràng những ham muốn khó kềm chế và những hành động thỏa mãn nó .

Nói thế không phải để giảm thiểu phần trách nhiệm phạm tội. Chúa không bảo chúng ta phải chịu trách nhiệm về những thử thách, cám dỗ trong đời, nhưng chúng ta phải chịu trách nhiệm về cách mình đối phó với những thử thách và cám dỗ đó.

(Theo tài liệu SBC Life của Michael Johnston, Số tháng 4, 2000)