Hòn Ðá Ê-bên-ê-xe

Thế là tàn một giấc mơ
Thế là cả một bài thơ não nùng
(Nguyễn Bính)

 

Tui rề lại gốc dừa mọc cạnh con rạch nhỏ trước nhà đón gió sớm thổi từ cánh đồng phía bên kia bờ mát rượi, run rẩy những chiếc lá dừa như lời tình tự, thì thầm của thiên thiên. Nắng ban mai lên rực rỡ, chan hòa trên tàng cây, ngọn cỏ. Tiếng gà gáy từ trong xóm chốc chốc lại vọng ra nghe buồn não nuột. Buổi sáng ở đồng quê thật êm dịu, nhẹ nhàng như lời mẹ ru con dưới rặng trâm bầu. Nhưng giờ này sao tui không cảm thấy yêu mến yêu chút nào cái buổi sáng quê hương hôm nay. Một cơn gió nhẹ cũng đủ làm tui cau có, bực mình. Tiếng chim cu gọi nhau ơi ới cũng khiến tui khó chịu, bứt rứt. Tui đâm ra chán ngán, ghét đắng, ghét cay những hình ảnh, âm điệu của chốn đồng quê Nam Bộ, nơi tui đã sinh ra, lớn lên trong mười mấy năm ròng. Tui đưa chân đá nhẹ những cọng rễ dừa đâm tủa trên mặt đất mà lòng thì cứ miên man nghĩ ngợi, tâm tư vời vợi âu sầu. Khi ta mười tám tuổi, ta cứ tưởng nỗi buồn của mình là ghê gớm lắm.

Sáng nay, đương khi cố nuốt vội miếng cơm và sắp sửa rời bàn ăn thì ba tui bỗng trịnh trọng lên tiếng:

- Thành con, con ở lại ba có chuyện muốn nói với con ... Tui chột dạ, nghĩ thầm:

- Thôi chết rồi! Hổng lẽ ổng biết chuyện mình không thuộc bài bữa hôm qua? Hay là vụ đánh lộn trong trận đá banh với tụi lớp 12 A tuần rồi?

Tui cứ suy tính, loay hoay tìm cớ biện hộ cho mình. Ba tui thì cứ im lặng, tay nắm chặt tách trà, mắt xa xăm nhìn ra trước sân. Cặp mắt ông mở lớn, dáng trầm ngâm, tư lự việc gì. Theo "kinh nghiệm" tui cho rằng đây là lúc ba tui đang buồn giận chuyện gì ghê gớm lắm, lòng cứ không ngớt lo âu. Ba tui vẫn mân mê tách trà như không bao giờ muốn uống cạn nó vậy. Cái im lặng đến độ nghẹt thở và sự hồi hộp đợi chờ phán quyết của ba tui càng khiến tui e ngại thêm. Cuối cùng rồi ba tui cũng uống cạn tách trà rồi quay sang khẽ nói:

- Thành con, ba không muốn cho con biết chuyện này nhưng mùa hè đã sắp đến rồi. Ba muốn nói là ngày tựu trường cho khóa học tới đó. Con còn phải lo nộp đơn xin đi học Ðại Học. Như con biết, tình trạng khủng hoảng kinh tế vẫn còn đè nặng trên xứ mình. Mùa lúa năm nay thất bại, ba phải trả nợ rất nhiều. Ba không có đủ tiền gởi con lên Sài Gòn học Ðại Học vào mùa tựu trường sắp đến như lời ba hứa được. Con đừng nên buồn vì...

Tui vùng chạy ra ngoài, đầu óc hỗn loạn, nước mắt chực trào ra. Bao năm qua, tui chờ đợi mãi ngày mình được lên Sài Gòn học tiếp bậc Ðại Học. Tui phải thực hiện hoài bão của mình là học thêm một mớ kiến thức sâu rộng về nông nghiệp để giúp đỡ ba tui, giúp những người nông dân chất phác của miền Nam làm ra thêm nhiều lúa gạo để nuôi sống dân mình, nuôi sống nước Việt Nam đã tan tác nhiều phen vì lửa khói chiến tranh. Tui sẽ giúp họ chỉnh độ phèn trong nước ruộng, giúp họ trừ sâu, gây giống lúa tốt, diệt cỏ, tăng năng suất thu hoạch...Ước mơ ấp ủ bấy lâu nay của tui tan tành rồi. Ngồi dực gốc dừa mà tui cứ mong sao có trái dừa khô nào rụng xuống trúng đầu để chết quách cho rồi. Nỗi buồn cứ ào ạt, cuồn cuộn dâng lên trong lòng. Ở lứa tuổi mười tám, khi buồn ta cứ tưởng nỗi buồn của mình là ghê gớm lắm!

Tui chạy băng qua cây cầu nhỏ bằng thân dừa bắc ngang qua con rạch. Tui qua nhà chú Tư Rọm vì lúc nãy ngồi bên gốc dừa, tui thấy loáng thoáng bóng chú sau tàng lá vườn. Nhác thấy tui, chú Tư khê liền:

- Coi kìa cậu Sáu, chạy đi đâu mà hớt hơ, hớt hãi vậy? Ê nè, sao mặt mày buồn quá vậy, bị chú Ba la à?

Chú Tư Rọm làm công cho ba tui đã trên mười năm nay. Không có ai trong xóm này làm ruộng giỏi hơn chú. Chú cày những thửa ruộng thật thẳng, thật mau. Chú cấy lúa nhanh gần gấp hai người thường. Mùa lúa chín, chú cắt lúa, đập lúa, vác lúa, phơi lúa và làm đủ mọi chuyện. Ba tui thương chú nên cho chú một miếng đất nhỏ cất nhà nằm gần nhà tui, chỉ cách một con rạch. Dù làm việc nặng nhọc, vất vả nhưng lúc nào chú cũng vui vẻ, cười nói với mọi người. Những ngày cuối năm, sau mùa gặt, chú thường cùng bà con trong xóm tụ tập, hát hò trong những đêm trăng. Giọng hò và hơi vọng cổ của chú nghe thật truyền cảm, thu hút vô cùng. Lúc còn trẻ, chú đã quen thím Tư trong những đêm trăng này. Cuộc đời của chú hiền hòa, vui vẻ làm sao, đâu có như tui bây giờ. Tui lên tiếng khi thấy chú Tư băn khoăn nhìn mình:

- Buồn thúi ruột chú Tư ơi! Tui muốn chết đi cho rồi.

- Bậy nà! Nói năng gì mà bậy bạ vậy? Tại sao khi không lại muốn chết? Nói tui nghe thử đi!

Tui bi thảm:

- Ba tui hổng cho tui tiền lên Sài Gòn học mùa tựu trường này. Buồn quá chú Tư ơi! Lâu nay tui đã cố công học cho xong Trung Học là để cho cái ngày này. Tui đã ra trường với số điểm cao, tui có ước mơ phải thực hiện. Vậy mà ba tui ổng đâu có biết. Sáng nay tui buồn quá nên qua nói cho chú nghe đó!

Chú Tư lặng im, mặt lộ vẻ ưu tư điều gì. Ðột ngột chú lên tiếng:

- Cậu Sáu nè, hồi cậu còn nhỏ, có phải cậu cứ đeo theo tui đòi tui kể chuyện cho cậu nghe phải không?

Tui hơi ngạc nhiên vì câu hỏi "lạc đề" của chú Tư nhưng cũng miễn cưỡng gật đầu:

- Có...

- Cậu còn nhớ chuyện nào hông?

- Có chứ! Chuyện Tam Quốc Chí có Lưu Bị, Quan Vân Trường, Trương Phi, Triệu Tử Long, Tào Tháo, Lữ Bố, Mã Siêu.., chuyện Xuân Thu Chiến Quốc với Bành Quyên, Tôn Tẫn, chuyện Hán Sở Tranh Hùng với Hạng Vũ, Trương Lương, Tô Tần, chuyện Thủy Hử với Lâm Sung, Võ Tòng và 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc, chuyên Nhạc Phi, Tể Tướng Cao Cầu...

Thấy tui còn hăng máu, thao thao không dứt, chú Tư ngắt lời:

- Còn chuyện nào khác hông, không phải chuyện Tàu?

Tui nhíu mày:

- Còn chuyện nào nữa cà? Ê còn chuyện ông mục sư già kể cho chú cháu mình nghe về giống dân Do Thái nào đó ở miền đất xa chúng ta lắm. Tui nhớ chuyện dân Do Thái đi bộ qua biển Hồng Hải, chuyện anh hùng nhỏ tuổi Ða-vít đánh thắng Gô-li-át, chuyện Ða-ni-ên ở trong hang sư tử...

Chú Tư ngắt lời tui lần nữa:

- Vậy chứ cậu có nghe chuyện hòn đá Ê-bên-ê-xe chưa?

Tui cố nhớ:

- Ê-bên-ê-xe? Tui chưa nghe. Chú kể đi!

Chú Tư tằng hắng lấy giọng đoạn cất tiếng kể:

- "...Thời đó dân Do Thái đang đánh nhau với dân Phi-li-tin. Cuộc chiến giằng co, quyết liệt. Nhưng có một lúc dân Do Thái suy yếu trong khi dân Phi-li-tin mạnh lên. Dân Phi-li-tin khởi binh đánh dân Do Thái chạy dài. Vận mệnh đất nước ngả nghiêng. Dân Do Thái bèn kéo tới đền thờ của Ðức Chúa Trời yêu cầu ông Sa-mu-ên cầu khẩn Ðức Chúa Trời giúp họ chống lại dân Phi-li-tin. Ðức Chúa Trời nhậm lời, khiến sấm sét nổ vang, đánh đuổi dân Phi-li-tin ra khỏi lãnh thổ Do Thái. Ông Sa-mu-ên bèn lấy một hòn đá lớn đặt ở biên giới hai nước và đặt tên là Ê-bên-ê-xe mà nói rằng: "Từ trước đến nay, Ðức Chúa Trời đã luôn luôn giúp đỡ, phù hộ chúng ta. Nay ta đặt hòn đá này tại đây như lời chứng là dân Phi-li-tin sẽ không bao giờ xâm phạm bờ cõi của dân Do Thái nữa..." Rồi cậu Sáu có biết không, lời nói đó đã được ứng nghiệm. Dân Phi-li-tin không bao giờ trở lại xâm lấn đất đai của dân Do Thái nữa.

Tui thắc mắc:

- Sao khi không chú lại kể cho tui nghe chuyện này vậy? Nó có ý nghĩa gì vậy chú?

-Có chứ! Từ trước tới nay, Chúa đã gìn giữ gia đình cậu khỏi mọi tai họa. Ngài cho cậu có một mái nhà ấm cúng, có mẹ, có cha, có anh, có chị quây quần bên nhau. Ngài cho cậu thông minh để đạt được điểm cao trong lớp, trong trường. Cậu không thấy Chúa đã cho cậu, giúp cậu nhiều quá rồi sao? Cậu không cám ơn Ngài mà giờ này mới gặp tí khó khăn là cậu đòi chết sao? Hãy nghĩ kỹ lại đi. Chúa sẽ giúp cậu có tiền lên Sài Gòn học. Có thể đây là thử thách cho cậu đó. Thôi đừng buồn nữa. Nên nhớ những ân phước Chúa dành cho cậu bấy lâu nay.

Tui chạy về nhà rồi dừng lại bên gốc dừa mà trầm tư, nghĩ ngợi. Tui không còn cảm thấy chán đời, muốn chết nữa. Buổi trưa đồng quê mới thanh thản, trầm lắng làm sao. Tiếng gà eo óc gáy từ trong xóm vọng ra nghe sao mà thân thiết, dễ mến vô cùng. Cơn gió từ đồng lúa đang thời con gái thổi nhẹ vào lòng tui khoan khoái dễ chịu. Tui nhìn mọi vật bằng con mắt yêu đời, yêu người. Khi ta mười tám, ta cứ tưởng niềm vui của ta là lớn lao, đáng nói nhất.

Tháng sau, ba tui bán đám mía trên gò, giá cao gần hai mọi lần. Ba tui trả bớt một phần nợ và còn một phần lo sắm sửa cho tui lên Sài Gòn học. Tiền không có nhiều nên tui phải phụ thêm chú Tám lo tiệm sửa đồng hồ kiếm thêm tiền sách vở, cơm nước. Ðược đi học và còn có cơ hội làm việc kiếm ra tiền tui vui mừng lắm. Chúa đã nối lại giấc mơ của tui, giấc mơ của bao nhiêu chàng trai nước Việt từ bao thế kỷ qua, giấc mơ được góp công lao, đắp xây mảnh đất thiêng liêng của giống nòi. Họ đã đổ máu, nước mắt để dành lại cho quê hương. Họ đã đổ mồ hôi trên những cánh đồng, trong những nhà máy. Họ đã dành thì giờ cầu nguyện cảm tạ ơn phước Chúa đổ trên quê hương họ. Hòn đá Ê-bên-ê-xe như một dấu mốc nhắc nhở tui bổn phận, trách nhiệm và tình yêu quê hương, yêu Chúa của lớp thanh niên như tui.

Trong những ngày lưu lạc nơi xứ người, tui vẫn nhớ hoài giọng nói ân cần của chú Tư Rọm. Tui vẫn nhớ hoài hòn đá Ê-bên-ê-xe như một dấu ấn thiêng liêng của cuộc đời.

Trần Văn Ðua