|
|
Sự Cứu Rỗi Vĩ Ðại
Trong chương vừa qua, chúng ta đã thảo luận vễ sự dự bị của Ðức Chúa Trời để cứu rỗi loài người bị hư mất, bởi sự ban cho Con Ngài. Ðấng Christ trong sự chết cứu chuộc và sự sống lại vinh hiển, đã mở đường cứu rỗi cho tất cả nhân loại. Nhưng thế không nghĩa là tất cả mọi người đều sẽ được cứu. Có vài điều kiện cần thiết trước khi mọi người được cứu. I. Kinh nghiệm của sự cứu rỗi Ðức Chúa Trời chỉ có một kế hoạch duy nhất để cứu chuộc loài người; " Vả ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điễu đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Ðức Chúa Trời" (Ê-phê-sô 2:8). Sự cứu rỗi là nhờ ân điển Ðức Chúa Trời và được thực hiện bởi sự tin Ðức Chúa Jêsus Christ, trong lòng mỗi người. Ðức Chúa Trời không có kế hoạch cứu rỗi nào khác nữa. Có người muốn cho chúng ta tin rằng trong suốt thời ký Cựu Ứơc, con người đã được cứu nhờ tuân theo luật pháp. Trong thơ gởi cho người Ga-la-ti và những đoạn văn khác, Phao-lô đã đinh chánh quan niệm sai lầm ấy. Ông đã tuyên bố: " Dầu vậy, đã biết rằng người ta được xưng công bình, chẳng phải bởi các việc luật pháp đâu, bèn là cậy đức tin trong Ðức Chúa Jêsus Christ... Vì chẳng có ai được xưng công bình bởi các việc luật pháp" (Ga-la-ti 2:16). Sau đó Phao-lô đã bày tỏ sự Áp-ra-ham và những thánh nhân khác trong Cựu-Ứơc đã được cứu rỗi bởi sự tuân theo luật pháp: "Như Áp-ra-ham tin Ðức Chúa Trời, thì đã kể là công bình cho người" (Ga-la-ti 3:6). Chúa Jêsus đã phán : "Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ" (Giăng 8:56). Trong Hê-bơ-rơ 11:24-26, chúng ta thấy lời chép về Môi-se như sau: " Bởi đức tin, Môi-se lúc đã khôn lớn, bỏ danh hiệu mình là con trai của công chúa Pha-ra-ôn, đành cùng dân Ðức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là tạm hưởng sự vui sướng của tội lỗi". Những người nầy đã được cứu bởi đức tin trong Ðấng Christ, Ðấng sẽ đến cũng như chúng ta được cứu, bởi đức tin trong Christ, Ðấng đã đến. II. Vài Chân Lý Về Sự Cứu Rỗi Trong sự nghiên cứu cẩn thận và suy nghĩ thấu đáo những lời dạy trong Kinh Thánh, ta cần đặc biệt chú tâm đến một vấn đề quan trọng. Về điểm nầy nhiều người thường hiểu lầm. 1. Một sự ban cho " Sự ban cho của Ðức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Ðức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta" (Rô-ma 6:23). Con người không thể mua sự cứu rỗi, cũng như không thể lãnh được nó bởi những công việc làm tốt đẹp của mình: " Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Ðức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình; vì chúng là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Ðức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Ðức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo" ( Ê-phê-sô 2:8-10). Chúng ta không phải được cứu nhờ những việc làm tốt đẹp, nhưng được cứu để làm việc tốt đẹp. Ðó là một bài học khó hiểu đối với con người. Con người đã cố gắng tìm kiếm sự cứu rỗi bằng đức tánh cuả họ. Nhưng sự cứu rỗi là điều ban cho của Ðức Chúa Trời, và không một người nào có thể có được, trừ phi họ bằng lòng nhận đó là một món quà ban tặng. Nhưng có người sẽ nói: " Phao-lô đã chẳng bảo lấy lòng sợ sệt làm nên sự cứu chuộc mình là gỉ" (Phi-líp 2:12). Chúng ta nên nhớ rằng những điều nầy nói với những người đã là tín đồ Cơ-đốc trong câu tiếp theo đây, Phao-lô nói: " Vì ấy chính Ðức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn, vừa làm theo ý tốt Ngài." Ðức Chúa Trời tác động bên trong, con người phải tác động bên ngoài. Việc cũng tỉ như chuyện người cha cho trai mình một miếng ruộng. Miếng ruộng không tốn kém cho người con một tí gì, vì đó là vật người cha đã ban cho. Nhưng người con có thành công trong sự khai thác miếng ruộng không, là tùy ở sự gia công của mình vào đấy. Nếu người con bỏ lớ không săn sóc đến miếng ruộng mình, thì cỏ dại sẽ không sản xuất được gì. Nhưng nếu người con cố gắng trồng trọt, thì mùa gặt hái sẽ được tốt đẹp. Cùng một lối, sự cứu rỗi là một tặng phẩm của Ðức Chúa Trời. Người nhận lãnh không phải hao tốn gì cả. Nhưng sự người ấy có thành công hay không, trong đời sống của mình, còn tùy thuộc nơi sự đóng góp của anh. Nếu ngươi ấy hờ hững và không chú tâm, thì đời sống thuộc linh của anh nghèo nàn lắm. Nhưng nếu anh cố gắng hết lòng, anh sẽ nhận được phần thưởng dồi dào. Ðó là điều Phao-lô muốn bày tỏ khi nói: " Ví bằng công việc của ai xây trên nền được còn lại, thì thợ đó sẽ lãnh phần thưởng. Còn về phần người đó, sẽ được cứu, song dường như qua lửa vậy" ( I Cô-rinh-tô 3:14-15). 2. Một từng trải cá nhân riêng-biệt Lời Ðức Chúa Trời ca ngợi giá trị cá nhân cà
phẩm cách của nhân vị. Trong kinh nghiệm cứu rồi, Ðức Chúa
Trời không tiếp nhận từng gia đình hay đoàn nhóm. Cùng một
lúc, có thể có một số người được cứu, nhưng mỗi người phải
từng trải sự cứu rỗi của riêng mình. " Như vậy, mỗi
người trong chúng ta sẽ khai trình việc mình với Ðức Chúa Trời"
(Rô-ma 14:12). Ðó là lời Phao-lô cảnh cáo các tín đồ Cơ đốc
thành Rô-ma.
Vả điều nầy là sự thật, nên có hai chân lý liên hệ
cần được nhấn mạnh: 1) Khả năng thông công của linh hồn Mỗi cá nhân,
tự mình có khả năng giao tiếp với Ðức Chúa Trời. Ðiều
nầy có khi được gọi là khả năng thông công của linh
hồn. Khi thông công với Ðức Chúa Trời, mỗi người không
cần có mục sư hay người đỡ đầu nào làm trung gian. Tự
cá nhân mình có thể trực tiếp với Ngài không cần có
sự giúp đỡ của con người hoặc cơ sở thờ phượng.
Mỗi cá nhân chỉ có thể thông công với Ðức Chúa Trời
cho chính bản thân mình thôi, vì không có ai khác có thể
trả lời thay cho mình trước mặt Chúa. Trong tôn giáo không
thể có sự uỷ nhiệm. Cha mẹ hay bạn bè có thể giúp cho
cá nhân tiến gần Ðức Chúa Trời, nhưng không thể thay mặt
cá nhân mà trực giao với Ngài. 2) Sự tự do của linh hồn Cá nhân có
quyền thông công với Ðức Chúa Trời cho riêng mình, một
quyền mà không ai có thể phủ nhận được. Ðiều nầy
được gọi là sự tự do của linh hồn. Cá nhân phải
được tự do để đọc và suy nghiệm lời Ðức Chúa Trời
cho bản thân mình, và cá nhân có quyền thờ phượng Ðức
Chúa Trời, thể theo lời kêu gọi của lương tâm mình. Không một
người nào hay một cơ sở nào có quyền đứng giữa một
linh hồn và Ðức Chúa Trời, để ngăn cản linh hồn không
cho tiến gần Ngài. Nếu một cá nhân phải chịu trách nhiệm
cho riêng mình trước Ðức Chúa Trời, thì cá nhân ấy phải
được tự do gần gũi Ngài cho riêng mình. Người khác có
thể giúp cho cá nhân ấy mà không có quyền ngăn cản. 3) Một từng trải gồm ba phần Sự cứu rỗi
gồm có ba phần. Từng trải thứ nhất--Sự tái sanh; kế
đến sự từng trải lớn lên--Sự nên thánh; và sự
từng trải tuyệt điểm--Sự vinh hiển. Ðó là sự cứu
khỏi sự trừng phạt của tội lỗi, sự cứu khỏi quyền
lực của tội lỗi và cuối cùng là sự cứu khỏi sự
hiện diện của tội lỗi. Sự cứu rỗi gồm có ba thời kỳ:
Thời kỳ quá khứ, chúng ta đã được cứu--đó là sự
tái tạo (Ê-phê-sô 2:5, 8); thời kỳ hiện tại, chúng ta đang
được cứu--đó là sự nên thánh (Phi-líp 2:12); thời kỳ
tương lai, chúng ta sẽ được cứu--đó là sự vinh hiển
(Rô-ma 5:9; 13:11). 4) Một sự cứu rỗi đời đời Khi một người đã
được cứu rỗi thật sự, người ấy được cứu rỗi
đời đời. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: "Chiên ta nghe
tiếng ta, ta quen nó, và nó theo ta. Ta ban cho nó sự sống
đời đời; nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp
nó khỏi tay ta. Cha ta là Ðấng lớn hơn hết đã cho ta chiên
đó, và chẳng ai cướp nổi chiên đó khỏi tay Cha"
(Giăng 10:27-29). Về phía con người, sự
nầy được gọi là sự bền gan của các thánh đồ. Về phía
Ðức Chúa Trời, đó là sự gìn giữ thiêng liêng. Các
thánh đồ rất bền gan, và Ðức Chúa Trời bảo tồn:
"Tôi tin chắc rằng Ðấng đã khởi làm việc lành trong
anh em, sẽ làm trọn hết, cho đến ngày của Ðức Chúa Jêsus
Christ " (Phi-líp 1;6); "Là kẻ bởi đức tin, nhờ quyền
phép của Ðức Chúa Trời giữ cho, để được sự cứu
rỗi gần hiện ra trong kỳ sau rốt!" (I Phi-e-rơ 1:5). Ðiều nầy chẳng những
phù hợp với lời hứa của Ðức Chúa Trời, mà còn phù
hợp với những lời được dùng để mô tả sự cứu
rỗi. Ðó là một sự tái sanh. Khi một người được cứu,
người ấy Ðược sanh ra từ Ðức Chúa Trời. Ðó là sự
từng trải chỉ có một lần mà thôi. Khi một người tin cậy
Ðức Chúa Jêsus Christ, người ấy nhận được sự ban cho
cuộc sống đời đời: " Ai tin Con thì được sự sống
đời đời" (Giăng 3:36). Ðã là đời đời thì không
thể ngừng nghỉ được, và kéo dài vô tận. 5) Lời kêu gọi xưng nhận nơi công cộng Chúng ta có lời của
Phao-lô như sau: "Vậy nếu miệng ngươi xưng Ðức Chúa
Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Ðức Chúa Trời đã khiến
Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; vì
tin ở trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng
làm chứng mà được sự cứu rỗi" (Rô-ma 10:9-10). Người ta không biết rằng
một người không xưng nhận đức tin của mình nơi Ðấng Christ
một cách công khai có được cứu hay không. Nhưng có điều
rất đúng sự thật là người nào từ chối sự xưng nhận
công khai của đức tin mình, người ấy không bao giờ kinh
nghiệm được những sự vui thỏa đầy đủ của sự cứu
rỗi. 6) Thái độ vâng phục biểu lộ sự cứu rỗi Ðây là lời phán của
Chúa chúng ta: "Nếu ai yêu mến ta, thì vâng giữ lời
ta" (Giăng 14:23); và Ngài tiếp: "Còn kẻ nào chẳng
yêu mến ta, thì không vâng giữ lời ta; " (câu 24). Và
trước giả sách Hê-bơ-rơ nói: "Và sau khi đã được
làm nên trọn vẹn rồi, thì trở nên cội rễ của sự cứu
rỗi đời đời cho kẻ vâng lời Ngài" (Hê-bơ-rơ 5:9).
Sự cứu rỗi được thể hiện bằng thái độ vâng phục. Sự vâng phục có tính
cách vừa thụ động vừa chủ động. Ðiều nầy có nghĩa là
sự giữ gìn không phạm mọi điều ác, và giữ mình khỏi
sự ô uế của thế gian (Gia-cơ 1:27). Ðiều nầy còn có nghĩa
là sự thực hành những việc tốt đẹp, và hiến dâng
đời mình để hầu việc Chúa. Hai khía cạnh của sự
vâng phục đã được bày giải trong sách Rô-ma 12:12:
"Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xói của Ðức
Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống
và thánh đẹp lòng Ðức Chúa Trời, ấy là sự thờ
phượng phải lẽ của anh em. Ðừng làm theo đời nầy, nhưng
hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để
thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của
Ðức Chúa Trời là thể nào." 7) Sự cứu rỗi sẵn dành cho mọi người Kinh Thánh tuyên bố rằng
Ðức Chúa Trời "lấy lòng nhịn nhục đối với anh em,
không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi
người đều ăn năn" (II Phi-e-rơ 3:9); và "Ngài muốn
cho mọi người được cứu rỗi, và hiểu biết lẽ thật"
(I Ti-mô-thê 2:4). Vì Ðức Chúa Trời
thương yêu thế gian, nên Ngài đã ban Con một Ngài xuống thế
gian: " Vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi
đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị
hư mất mà được sự sống đời đời" (Giăng 3:16). Chính vì để cứu chuộc
thế gian mà Ðức Chúa Jêsus đã đi đến thập tự giá và
chịu chết: Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng
ta, không những vì tội lỗi của chúng ta thôi đâu, mà cũng
vì tội lỗi cả thế gian nữa" (Giăng 2:2). Ðức Chúa Trời đã uỷ
thác cho giáo hội đem Tin Lành đến khắp thế gian: "Vậy
hãy đi dạy dỗ muôn dân" (Ma-thi-ơ 28:19). Dân Giu-đa đã chấp nhận
chân lý nầy cách khó khăn. Họ cứ tưởng rằng sự cứu
rỗi chỉ dành riêng cho người Giu-đa mà thôi. Khi Phi-e-rơ
nhờ quyền năng của Ðức Thánh Linh, đã mang sứ điệp Tin
Lành đến nhà Cọt-nây, điều nầy đã gây ra sự phẫn nộ
trong giáo hội thành Giê-ru-sa-lem, lúc bấy giờ chỉ gồm toàn
những tín đồ người Giu-đa. Nhưng Ðức Chúa Trời không
thiên vị ai cả. Ðối với muôn dân các nước, Ngài không
ưa thích riêng ai. Ðối với một số người, Ngài ban cho
nhiều cơ hội thuận tiện hơn đối với một số người khác,
nhưng cơ hội thuận tiện nhiều thì luôn luôn đòi hỏi những
trách nhiệm lớn. III. Giáo thuyết của sự lựa
chọn Giáo thuyết của sự lựa
chọn trong Kinh Thánh vốn là một hòn đá đã làm hụt chân
nhiều người. Kinh Thánh đã tuyên bố rằng Ðức Chúa Trời
đã chọn lấy một vài người để cứu rỗi, có khi trước
lúc họ ra đời: " Vì, khi hai con chưa sanh ra, chưa làm
điều chi lành hay dữ--hầu cho được giữ vững ý chỉ
Ðức Chúa Trời, là ý định sẵn bởi sự kén chọn tự do
của Ngài, chẳng cứ việc làm, nhưng cứ Ðấng kêu gọi--
thì có lời phán cho mẹ của hai con rằng: Ta yêu Gia-cốp và
ghét Ê-sau" (Rô-ma 9:11-13). Trong Ê-phê-sô 1:4-5, ý
kiến nầy được phát biểu mạnh mẽ hơn: "Trước khi
sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Ðấng Christ, đặng làm
nên thánh không chỗ trách được trước mặt Ðức Chúa
Trời, bởi sự yêu thương của Ngài đã định trước cho
chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài bởi Ðức Chúa
Jêsus Christ, theo ý tốt của Ngài." Và trong II Tê-sa-lô-ni-ca
2:13: " Hỡi anh em yêu dấu của Chúa, còn như chúng tôi,
phải vì anh em tạ ơn Ðức Chúa Trời không thôi, vì vừa
lúc ban đầu, Ngài đã chọn anh em bởi sự nên thánh của
Thánh Linh, và bởi tin lẽ thật, đặng ban sự cứu rỗi cho
anh em." Chúng ta có thể trích dẫn nhiều đoạn Kinh Thánh
khác, có bàn đến giáo thuyết của sự lựa chọn. Một
giáo thuyết như thế nầy, có chứng tỏ sự thiên vị của
Ðức Chúa Trời và sự hủy diệt tự do của cá nhân
không? Không ai chối cãi là trong giáo thuyết có điều bí
ẩn. Và chắc là không ai đòi một sự giảng giải đầy
đủ. Nhưng Kinh Thánh đã ghi chép rằng sự lựa chọn đã
căn cứ trên sự biết trước của Ðức Chúa Trời:
"Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã
định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài" (Rô-ma
8:29); "Những người được chọn, theo sự biết trước
của Ðức Chúa Trời là Ðức Chúa Cha, và được nên
thánh bởi Ðức Thánh Linh, đặng vâng phục Ðức Chúa
Jêsus Christ và có phần trong sự rải huyết Ngài" (I
Phi-e-rơ 1:1-2). Ðức Chúa Trời không bị
hạn giới bởi thời gian. Với Ngài không có hiện tại,
quá khứ và tương lai, nhưng có một sự hằng hữu đời
đời. Vì thế sự lựa chọn của Ðức Chúa Trời không
thủ tiêu sự lựa chọn tự do của con người. Ðức Chúa
Trời biết sự chọn lựa của con người sẽ như thế nào.
Những đoạn Kinh Thánh trên đây rọi ít ánh sáng vào điểm
khó hiểu của giáo thuyết, nhưng không hoàn toàn giải thích
nó. |