|
|
Ðấng Cứu Thế
Khi A-đam phạm tội, làm cho chính mình
và toàn thể nhân loại bị hư hoại, thì Ðức Chúa Trời có ba lối
đối xử -- kết tội tất cả loài người cách không thương xót, cứu
chuộc tất cả nhân loại, hoặc dọn sẵn con đườngcứu chuộc cho những
ai ăn năn tội lỗi mà trở về với Ðức Chúa Trời. Lối sau cùng là
cách thức duy nhất của Ðức Chúa Trời công bình và thương yêu. Bởi
vậy Ngài đã hứa ban cho một Ðấng Mê-si sẽ đến cứu dân mình ra
khỏi tội. I. Sự hiện
hữu từ trước của Ðấng Christ
Sự hiện hữu của Ðấng Christ không như trường hợp của
một người thường bắt đầu khi Ngài ra đời. Ngài đã
hiện hữu từ một quá khứ vô tận. 1) Tân Ước đã chép rõ
ràng Ở đây, chỉ cần trích
dẫn vài đoạn. Chúng ta bắt đầu với Giăng1:1-2: "Ban
đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Ðức Chúa Trời,
và Ngôi lời là Ðức Chúa Trời. Ban đầu Ngài ở cùng
Ðức Chúa Trời." Những chữ dùng ở đây, chúng ta
đã gặp trong câu đầu của Kinh Thánh: "Ban đầu."
Trước lúc sáng thế, Ðấng Christ đã có mặt với Ðức
Chúa Cha. Giăng lại tiếp tục nói
rằng Ðấng Christ là nguyên động lực của sự sáng tạo.
" Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm
nên mà không bởi Ngài" (Giăng 1:3). Phao-lô đã ghi chép
chân lý nầy trong Cô-lô-se 1:16 " Vì muôn vật đã
được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời, dưới
đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi
vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền,
đều là bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên
cả." Và trong câu 17 người nói tiếp: " Ngài có
trước muôn vật, và muôn vật đứng vững trong Ngài." 2) Sự hiện hữu từ
trước đã được Chúa Jêsus xưng nhận Hơn một lần, Ðức Chúa
Jêsus đã nói về sự hiện hữu của Ngài, trong một quá
khứ vô tận. Ðối với những người Do Thái vô tín, Ngài
đã phán: " Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi,
trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta" (Giăng 8:58).
Áp-ra-ham đã sống gần hai ngàn năm trước khi Ðức Chuá
Jêsus ra đời, nhưng Ngài đã phán: "Trước khi Áp-ra-ham
ra đời đã hằng có ta." Trong một buổi cầu nguyện thay,
Ngài đã phán: " Cha ôi! bây giờ xin lấy sự vinh hiển
Con vốn có nơi Cha trước khi chưa có thế gian mà làm vinh
hiển Con nơi chính mình Cha" (Giăng 17:5). II. Sự hiện thân của Ðấng Christ Sự hiện thân có nghĩa
là hóa thân thành một con người bằng xương bằng thịt. Con
đời đời của Ðức Chúa Trời đã đến thế gian và hiện
thân trong một cơ thể phàm tục: "Ngôi Lời đã trở
nên xác thịt, ở giữa chúng ta" (Giăng 1:14). Phao-lô đã
ghi nhận điều nầy như sau: "Ngài vốn có hình Ðức Chúa
Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình, với Ðức Chúa
Trời là sự nên nắm giữ, chính Ngài đã tự bỏ mình đi
lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người"
(Phi-líp 2:6-7). Ðó là điều đã xảy ra khi "Hài nhi"
Jêsus ra đời tại Bết-lê-hem. Có hai chân lý liên quan đến sự hiện thân của Ðấng
Christ. 1) Một người thật Tên mà Ðức Chúa Jêsus
thường dùng nhất để chỉ Ngài, là "Con người."
Toàn thể sách Tin Lành trình bày Ngài như một con người.
Ngài đã sống như một con người và đã biểu lộ những
đặc tính của con người. Ngài lớn lên trong một cơ thể con
người: "Ðức Chúa Jêsus khôn ngoan càng thêm, thân hình
càng lớn, càng được đ(c)p lòng Ðức Chúa Trời và
người ta" (Lu-ca 2:52). Chúa Jêsus đã bị mệt và đói:
"Nhơn đi đàng mỏi mệt, Ðức Chúa Jêsus ngồi gần bên
giếng" (Giăng 4:6); "Và sau khi đã kiêng ăn bốn mươi
ngày bốn mươi đêm, Ngài bèn thấy đói" (Ma-thi-ơ 4:2).
Ngài đã bị đau đớn về thể xác, Ngài đã khóc, đã đi
ngủ, đã chết. Tất cả những sự từng trải đó, minh
chứng tánh chất con người thật của Ðức Chúa Jêsus. 2) Một Ðức Chúa Trời
thật Chúa Jêsus không những
chỉ là con người mà còn là Con của Ðức Chúa Trời. Ngài
đã xưng nhận thần tính của Ngài: "Ai đã thấy ta, tức
là đã thấy Cha" (Giăng 14:9). "Ta với Cha là một"
(Giăng 10:30). Ngài đã sử dụng quyền năng của Ðức Chúa
Trời. Ngài đã tha thứ tội lỗi: "Ðức Chúa Jêsus
thấy đức tin họ, bèn phán cùng kẻ baị rằng: Hỡi con ta,
tội lỗi ngươi đã được tha" (Mác 2:5). Những kẻ thù
nghịch đã kết Ngài vào tội tử hình, bởi Ngài đã xưng
nhận mình là Con của Ðức Chúa Trời: "Dân Giu-đa lại
nói rằng: chúng tôi có luật, chiếu luật đó hắn phải
chết; vì hắn tự xưng là Con Ðức Chúa Trời" (Giăng
19:7). Ấy vậy, trong Ðấng Christ,
chúng ta có "Ðức Chúa Trời--Người", hai bản thể
hợp lại trong một vị cách. Chúa là một con người thật
nên Ngài đã bị đói; Chúa là Ðức Chúa Trời thật nên
Ngài đã làm cho vô số con người khỏi đói bằng năm ổ
bánh mì và hai con cá nhỏ. Chúa là người thật nên Ngài
bị nhọc mệt; Chúa là Ðức Chúa Trời thật, nên Ngài ban
sự nghỉ ngơi cho những kẻ mệt mỏi. Ngài là người thật
nên Ngài đã bị buồn ngủ; Ngài là Ðức Chúa Trời thật
nên Ngài đã thức và khiển trách giông tố. Ngài là
người thật nên Ngài đã chết; Ngài là Ðức Chúa Trời
thật nên Ngài đã sống dậy từ kẻ chết. Chính ở trong vị
cách Ðức Chúa Trời--Người, mà Ngài trở thành Ðấng
Cứu Thế cho nhân loại. Chúng ta có thể hiểu
được điều nầy chăng? Dĩ nhiên là không. Và bởi có
nhiều người không hiểu được điều nầy nên họ đã
không công nhận đó là sự thật. Một ngày kia có người
hỏi ông Daniel Webster (Chính trị gia và nhà hùng biện ở
Mỹ-quốc 1782-1852) như vầy: "Ông có hiểu Ðức Chúa
Jêsus Christ? " Ông bèn trả lời: "Không. Tôi rất
lấy làm xấu hổ mà nhận Ngài làm Cứu Chúa của tôi, nếu
tôi có thể hiểu được Ngài. Tôi cần một Cứu Chúa siêu
nhân--một Ðấng tối vĩ đại và tối vinh hiển mà tôi không
thể hiểu được." III. Thần tính của Ðấng Christ Những điều vừa trình
bày đã đặt ra vấn đề thần tính của Ðấng Christ. Theo cách
dùng từ ngữ ngày nay, có điểm khác nhau giữa danh từ
thiên tính và thần tính: Thiên tính là cái mà ai cũng có
thể xưng nhận, vì họ đã được tạo ra theo hình ảnh Ðức
Chúa Trời. Trong họ có cái gì giống Ðức Chúa Trời. Nhưng
không có người thường nào có thể xưng nhận thần tính cho
mình. Ðó là điểm để phân biệt thuộc về Ðức Chúa
Jêsus, con Người của xứ Ga-li-lê. Lời của Giám mục Durham
thường được trích dẫn như sau: "Một Ðấng Christ mà
không phải là Ðức Chúa Trời thì cũng như cây cầu gãy
ở đâu bên kia." 1) Tánh chất sự giáng
sanh của Chúa Không có sự giáng sanh
nào như sự giáng sanh của Hài nhi ở Bết-lê-hem. Ma-thi-ơ
nói: "Vả, sự giáng sanh của Ðức Chúa Jêsus Christ đã
xảy ra như vầy: Khi Ma-ri, mẹ Ngài, đã hứa gả cho Giô-sép,
song chưa ăn ở cùng nhau, thì người đã chịu thai bởi Ðức
Thánh Linh. Giô-sép, chồng người, là người có nghĩa,
chẳng muốn cho người mang xấu, bèn toan đem để nhẹm. Song
đang ngẫm nghĩ về việc ấy, thì thiên sứ của Chúa hiện
đến cùng Giô-sép trong giấc chiêm bao, mà phán rằng: Hỡi
Giô-sép, con cháu Ða-vít, ngươi chớ ngại lấy Ma-ri làm vợ,
vì con mà người chiụ thai đó là bởi Ðức Thánh Linh"
(Ma-thi-ơ 1:18-20). Lu-ca chứng thật lời của
Ma-thi-ơ và diễn tả lại có phần nhấn mạnh hơn: " Ðến
tháng thứ sáu, Ðức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên
đến thành Na-xa-rét, xứ Ga-li-lê, tới cùng một nữ đồng
trinh tên là Ma-ri, đã hứa gả cho một người nam tên là
Giô-sép, về dòng vua Ða-vít. Thiên sứ vào chỗ người nữ
ở, nói rằng: Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi; Chúa
ở cùng ngươi. Ma-ri nghe nói thì bối rối, tự hỏi rằng
lời chào ấy có ý nghĩa gì. Thiên sứ bèn nói rằng: Hỡi
Ma-ri đừng sợ, vì ngươi đã được ơn trước mặt Ðức
Chúa Trời. Nầy, ngươi sẽ chiụ thai và sanh một con trai mà
đặt tên là Jêsus" (Lu-ca 1:26-31). Rồi trong câu 35, Lu-ca
giải thích cách thức Chúa giáng sanh như thế nào: "Thiên
sứ truyền rằng: Ðức Thánh Linh sẽ đến trên ngươi, và
quyền phép Ðấng Rất Cao sẽ che phủ ngươi dưới bóng mình,
cho nên Con thánh sanh ra, phải xưng là con Ðức Chúa
Trời." Những ai phủ nhận sự giáng sanh từ một trinh nữ của
Chúa Jêsus tức là phủ nhận lẽ thật của lời Chúa. 2) Cách sống của Chúa Ðức Chúa Jêsus đã
sống một cuộc đời hoàn toàn. Trước giả Hê-bơ-rơ nói
về Ngài: " Có một thầy tế lễ bị thử thách mọi việc
cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội" (Hê-bơ-rơ 4:15).
Chúa Jêsus có thể đứng trước mặt những kẻ nghịch của
Ngài và thách họ thử hài ra một tội lỗi một mà Ngài
phạm phải: "Trong các ngươi có ai bắt ta thú tội được
chăng?" (Giăng 8:46). Lời tuyên bố của Phi-lát là điều
phán quyết qua bao thời đại: "Ta không thấy người nầy
có tội gì." (Lu-ca 23:4). Ông Ramanes đã nói về Ngài:
"Sự kiện lạ kỳ nhất về Ðức Chúa Jêsus là hai mươi
thế kỷ đã thất bại trong sự tìm kiếm trong Ngài một tội
lỗi nhỏ." Chỉ có Con của Ðức Chúa Trời mới có thể
sống một đời sống như thế. 3) Tính chất những lời
giáo huấn của Chúa Khi bọn người được
lệnh từ Giê-ru-sa-lem đi kiếm bắt Chúa Jêsus và đưa Ngài
ra trước tòa công luận, họ đã trở về không có Ngài.
Lúc bị hỏi tại sao thất bại, chúng bèn trả lời:
"Chẳng hề có người nào đã nói như người nầy"
(Giăng 7:46). Chẳng hề có người nào đã nói như người
nầy, vì chẳng hề khi nào đã có một người như người
nầy. Có những diễn giả nói lời vàng, làm ảnh hưởng
đám quần chúng, với lời hùng biện của mình; có những
đại học giả đã làm ngạc nhiên người ta với sự hiểu
biết của mình; nhưng không có ai đã nói như Chúa Jêsus.
Lời nói của Ngài vừa giản dị, và sâu xa, Người bình
dân nghe Ngài phán một cách sung sướng, và người thông
thái nhất cũng kinh ngạc vì lời nói của Ngài. Những
nguyên lý Ngài chủ xướng, đã là ngọn đèn dìu d������t nhân
loại qua bao thế kỷ. 4) Sự kỳ diệu của lời
Chúa �� Khi Ni-cô-đem, người cai
trị dân Giu-đa, đang đêm đến cùng Ðức Chúa Jêsus, người
bèn nói với Chúa rằng: "Thưa thầy, chúng tôi biết
thầy là giáo sư từ Ðức Chúa Trời đến; vì những phép
lạ thầy đã làm đó, nếu Ðức Chúa Trời chẳng ở cùng,
thì không ai làm được" (Giăng 3:2). Ðó cũng là lời
giải thích của Chúa Jêsus về những phép lạ của Ngài.
Ðứng trước vô số quần chúng thành Giê-su-sa-lem, Ngài
phán: "Nhưng ta có một chứng lớn hơn chứng của Giăng;
vì các việc Cha đã giao cho ta làm trọn, tức là các việc ta
làm đó, làm chứng cho ta rằng Cha đã sai ta" (Giăng 5:36). 5) Sự sống lại vinh diệu
của Chúa Phao-lô đã bày tỏ rằng
sự sống lại của Chúa Jêsus là bằng chứng chắc chắn
nhất về thần tính Ngài. "về Con Ngài, theo xác thịt thì
bởi dòng dõi vua Ða-vít sanh ra, theo thần linh của thánh
đức, thì bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết,
được tỏ ra là Con Ðức Chúa Trời có quyền phép, tức
là Ðức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta" (Rô-ma 1:3-4).
Ngài đã bị đóng đinh trên thập tự giá và bị treo ở
đấy cho đến chết. Xác Ngài đã được lấy xuống khỏi
thập tự giá và đem chôn ở một ngôi mộ bằng đá xây. Một hòn đá to đã
được lăn đến lấp cửa mộ và đóng dấu triện Rô-ma,
và để cho chắc chắn rằng xác chết không bị phá động,
một toán lính người Rô-ma đã được bố trí canh phòng ở
đó. Nhưng đến ngày thứ ba; thì xác chết đã ra khỏi mồ
và sống lại trong hình thức vinh hiển. Phao-lô nói rằng đó
là bằng chứng chắc chắn nhất về thần tính của Ðấng
Christ. IV. Sự chết của Ðấng Christ Trải qua bao thời đại,
sự đóng đinh Chúa Jêsus là một tội ác lớn nhất. Tuy
nhiên, đó là sự bày tỏ tột độ tình yêu thương của
Ðức Chúa Trời: "Nhưng Ðức Chúa Trời tỏ lòng yêu
thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người
có tội, thì Ðấng Christ vì chúng ta chịu chết" (Rô-ma 5:8).
Ðó là điều thể hiện đẹp đẽ nhất của Ðức Chúa
Trời, thay đổi những lời nguyền rủa thành phúc lành.
Giô-sép đã nói cùng các anh người rằng: "Các anh toan
hại tôi, nhưng Ðức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho
tôi, hầu cứu sự sống cho nhiều người, y như đã xảy
đến ngày nay, và giữ gìn sự sống của dân sự đông
đảo" (Sáng-thế-ký 50:20). Những kẻ thù nghịch của Chuá
đã tưởng rằng sự đóng đinh Ngài là thắng lợi lớn
nhất của chúng, nhưng Ðức Chúa Trời đã chuyển hóa sự
nầy thành điều bại lớn nhất của chúng. Bởi thập tự
giá, Ðức Chúa Trời đã thực hiện sự cứu rỗi cho thế
gian bị hư mất. Có nhiều chân lý liên hệ đến sự chết của Ðấng
Christ. 1) Sự tình nguyện Ðức Chúa Jêsus không
phải đi đến thập tự giá vì Ngài bất lực, lúc ở trong
tay bọn thù nghịch Ngài. Phi-e-rơ rút kiếm ra để bảo vệ
thầy mình ở vườn Ghết-sê-ma-nê, Chúa Jêsus đã phán
cùng người rằng: "Hãy nạp gươm vào vỏ; vì hễ ai cầm
gươm thì sẽ bị chết về gươm. Ngươi tưởng ta không có thể
xin Cha ta lập tức cho ta hơn mười hai đạo thiên sứ sao?"
(Ma-thi-ơ 26:52-53). Chẳng phải tất cả những
mưu cơ của bọn cầm quyền Giu-đa, tất cả quyền uy của các
quan cai trị Rô-ma, tất cả khí giới mạnh mẽ của Rô-ma, đã
có thể đóng đinh Ðức Chúa Jêsus trên thập tự giá. Nói
về cái chết của Ngài, Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Ấy vì
ta phó sự sống mình, để được lấy lại. Chẳng có ai cất
sự sống ta đi, nhưng tự ta phó cho" (Giăng 10:17-18). Ngài
đã từng tuyên bố rằng Ngài xuống trần gian để chịu chết:
Ấy vậy, Con người đã đến, không phải để người ta hầu
việc mình, song để mình hầu việc người ta, và phó sự
sống mình làm giá chuộc nhiều người" (Ma-thi-ơ 20:28). 2) Sự thay thế Ðiều quan hệ không phải
cách chết của Ðấng Christ mà là ý nghĩa của sự chết
đó. Ðã từng có người bị đóng đinh trên thập tự giá.
Nhưng trong cái chết của Ngài, Ðấng Christ đã mở đường
cứu chuộc con người. Lời của Ðức Chúa
Trời phán: "Tiền công của tội lỗi là sự chết"
(Rô-ma 6:23). Sau có đoạn nói rằng tất cả đều phạm tội
trước mặt Ðức Chúa Trời: "Vì mọi người đều đã
phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời"
(Rô-ma 3:23). Ấy vậy, Ðức Chúa Trời
làm thế nào cứu chuộc con người, gìn giữ sự công nghĩa
và duy trì luật pháp Ngài? Thập tự giá của Ðấng
Christ trả lời về điều nầy: "Và họ nhờ ân điển
Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc
tội đã làm trọn trong Ðức Chúa Jêsus Christ, là Ðấng
Ðức Chúa Trời đã lập làm của lễ chuộc tội, bởi
đức tin trong huyết Ðấng ấy. Ngài đã bày tỏ sự công
bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia,
trong buổi Ngài nhịn nhục; tức là Ngài đã tỏ sự công
bình Ngài trong thời hiện tại, tỏ ra mình là công bình và
xưng công bình kẻ nào tin đến Ðức Chúa Jêsus"
(Rô-ma 3: 24-26). Có nhiều lý thuyết về
sự chuộc tội đã được đề ra, nhưng giáo lý trong Kinh
Thánh chứng minh sự chết của Ðức Chúa Jêsus là sự thay
thế. Ngài đã dành lấy chỗ con người đã phạm phải
luật pháp của Ðức Chúa Trời, và chịu đau đớn thay cho
họ. Ðiều nầy đã được dự ngôn trong Cựu Ước. Ðức Chúa Trời đã vén
bức màn cho Ê-sai nhìn thấy suốt bảy thế kỷ về sau, để
có một hình ảnh về thập tự giá. Ðây là điều ông
đã thấy: " Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị
vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự
sửa phạt người chịu, chúng ta được bình an, bởi lằn roi
người chúng ta được lành bịnh. Chúng ta thảy đều như
chiên đi lạc, ai theo đường nấy: Ðức Giê-hô-va đã
làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên
người" (Ê-sai 53: 5-6). Sự chết thay của Ðấng
Christ đã được bày tỏ rõ ràng trong Tân Ước. Không
có lời giải thích nào khác hơn những đoạn sau nầy:
"Ðấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì
chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Ðấng đó mà được trở
nên sự công bình của Ðức Chúa Trời" (Cô-rinh-tô
5:21). "Ðấng Christ đã chuộc
chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã
trở nên sự rủa sả vì chúng ta" (Ga-la-ti 3: 13). "Ngài gánh tội lỗi
chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta
là kẻ đã chết vì tội lỗi, được sống cho sự công
bình; lại nhơn những lằn đòn của Ngài mà anh em đã
được lành bịnh" (I Phi-e-rơ 2:23). "Ấy vậy, bởi ân
điển của Ðức Chúa Trời, Ðức Chúa Jêsus đã vì mọi
người nếm sự chết" (Hê-bơ-rơ 2:9). "Ấy chính Ngài làm
của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi
chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian
nữa" (I Giăng 2:2). Ðức Chúa Jêsus đã mang thế gian
trong Ngài, khi đi đến thập tự giá. 3) Chỉ một lần thôi Sẽ không bao giờ có một
Ðấng Cứu Thế khác, bởi vì thế gian sẽ không còn cần
một Ðấng Cứu Thế nào nữa. Ðối với mọi người,
và bất cứ lúc nào, Ðấng Christ đã đủ cho họ. Sẽ
không bao giờ có một đồi Gô-gô-tha khác, vì sự chuộc
tội diễn ra ở đây đã thỏa mãn sự đòi hỏi của những
kẻ tội lỗi ở khắp mọi nơi. Chúa đã chết một lần
thôi: "Nhưng hiện nay đến cuối cùng các thời đại,
Ngài đã hiện ra chỉ một lần, dâng mình làm tế lễ để
cất tội lỗi đi. Cũng vậy Ðấng Christ đã dâng mình chỉ
một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người"
(Hê-bơ-rơ 9:26,28). V. Sự sống lại của Ðấng Christ Ðấng Christ đã chết trên
thập tự giá và đã được chôn ở phần mộ của
Giô-sép A-ri-ma-thê, nhưng ngày nay Ngài không chết. Ðến
ngày thứ ba, Ngài đã sống dậy từ ngôi mộ, và sống mãi
mãi muôn đời. Ðó là một trong những
điểm đặc biệt của Cơ-đốc giáo làm cho đạo nầy khác
với tất cả mọi tôn giáo. Chúng ta có một Ðấng Cứu
Thế hằng sống. Ðức Phật đã sống nhiều thế kỷ
trước Ðấng Christ. Ðức Phật đã xây dựng hệ thống
giáo lý của Ngài và trong vài năm, Ngài đã viên
tịch. Và hiện nay Ðức Phật đã không còn nữa.
Thể xác của Ngài vẫn còn nằm dưới đất. Ðức
Ma-hô-mết đã sống sau Ðấng Christ nhiều thế kỷ. Ngài
cũng thế, đã xây dựng tôn giáo mình và đã chết.
Ngài cũng thế, hiện nay vẫn còn chết. Thể xác Ðức
Ma-hô-mết nằm trong một ngôi mộ ở Trung Ðông. Ðấng Christ đã chết nhưng
ngày nay Ngài không chết. Dấu niêm phong của người
Rô-ma và toán lính canh Rô-ma không thể giữ thân thể Ngài
lại dưới mộ. Ngài đã phá bỏ những ràng buộc của
sự chết để trở lại sống đời đời--" Bởi biết
rằng Ðấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, thì chẳng
chết nữa; sự chết không còn cai trị trên Ngài"
(Rô-ma 6:9). Trong lịch sử không có
sự kiện nào được chứng minh rõ ràng hơn sự sống lại
của Ðấng Christ. Ngôi mộ trống không, quần áo trong
ngôi mộ, sự khai thật của những người chứng đáng tin,
và nhiều sự kiện hiển nhiên khác, đã chứng minh rằng
Ðấng Christ đã sống dậy từ kẻ chết. Ảnh hưởng của
Ngài trong thế giới ngày nay, chứng minh Ngài hãy còn sống. Một tín đồ Cơ-đốc sùng
đạo đã bị một người vô tín hỏi tại sao tin rằng Ðấng
Christ đã sống lại từ kẻ chết. Người tín đồ già
trả lời: "Ấy, một trong những lý do, là tôi đã
hầu chuyện với Ngài nửa giờ sáng hôm nay." Có vài chân lý quí báu
liên hệ đến sự sống lại của Ðấng Christ. 1) Hoàn thành công việc ở thập tự giá Một Ðấng Christ đã chết
đi, không thể là một Ðấng Cứu Thế. Sự sống lại
của Ngài đã đem lại sự bảo đảm rằng Ðức Chúa Trời
đã công nhận công trình Cứu chuộc của Chúa trên thập
tự giá--" Ngài đã bị nạp vì tội lỗi chúng ta, và
sống lại vì sự xưng công bình của chúng ta" (Rô-ma
4:25). Phao-lô đã nói: "Và nếu Ðấng Christ đã
chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn
ở trong tội lỗi mình" (I Cô-rinh-tô 15:17). Sự chết và sống lại
của Ðấng Chrsit là phần cốt yếu của nội dung sách Tin Lành
mà thánh Phao lô thuyết giảng: "Hởi anh em, tôi nhắc lại
cho anh em Tin Lành mà tôi đã rao giảng và anh em đã nhận
lấy, cùng đứng vững vàng trong đạo ấy, và nhờ đạo
ấy, anh em được cứu rỗi, miễn là anh em giữ lấy y như
tôi đã giảng cho; bằng không, thì anh em dầu có tin cũng
vô ích. Vả, trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điều
mà chúng tôi đã nhận lãnh, ấy là Ðấng Christ chịu chết
vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh; Ngài đã bị chôn
đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh Thánh" (I
Cô-rinh-tô 15:1-5). 2) Cung cấp bằng chứng về sự sống bên kia mộ địa Con người, trong suốt các
thời đại đã đi tìm những bằng chứng cụ thể về sự
bất diệt. Gióp đã kêu to lên rằng: "Nếu loài
người chết, có được sống lại chăng!" (Gióp
14:14). Sự sống lại của Ðấng Christ là câu trả lời
cho tiếng kêu trải qua suốt bao thế kỷ ấy. Phao lô đã nói:
"Ấy chính Chúa đã cứu chúng ta, đã gọi chúng ta bởi
sự kêu gọi thánh, chẳng phải theo việc làm chúng ta, bèn
là theo ý riêng Ngài chỉ định, theo ân điển đã ban cho
chúng ta, trong Ðức Chúa Jêsus Christ, từ trước muôn đời
vô cùng, mà bây giờ mới bày ra bởi sự hiện ra của
Ðức Chúa Jêsus Christ, Cứu Chúa chúng ta, Ngài đã hủy
phá sự chết, dùng Tin Lành phô bày sự sống và sự
không hề chết ra cho rõ ràng" (II Ti-mô-thê 1:9-10). Sự sống lại của Ðấng
Christ bày tỏ rằng sự chết không kết thúc câu chuyện.
Bên kia mộ địa, còn có sự sống. 3) Ban lời hứa hẹn và mẫu mực của sự sống lại cho con
cái Ngài Tron I Cô-rinh-tô 15:20,
chúng ta có lời ghi chép của Phao-lô rằng: "Nhưng bây
giờ, Ðấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, Ngài là trái
đầu màu của những kẻ ngủ." Những trái đầu mùa
được dâng lên cho Chúa là lời hứa hẹn và là trái
mẫu của mùa hái sắp tới. Khi hiến dâng những trái
đầu mùa của họ, dân chúng đã bày tỏ rằng, với sự ban
phúc lành của Ðức Chúa Trời, họ bảo đảm chắc chắn sẽ
có một mùa hái, và những trái đầu mùa kia là những
trái mẫu của mùa hái sắp tới. Ấy vậy, sự sống
lại của Ðấng Christ là một bảo đảm cho sự sống lại của
kẻ chết: "Như trong A-đam mọi người đều chết, thì
cũng một lẽ ấy, trong Ðấng Christ, mọi người đều sẽ sống
lại, nhưng mỗi người theo thứ tự riêng của mình:
Ðấng Christ là trái đầu mùa; rồi tới ngày Ðấng
Christ đến, những kẻ thuộc v��� Ngài sẽ sống lại" (I
Cô-rinh-tô 15:22-23). "Hỡi sự chết, sự thắng của
mày ở ��âu?" (I Cô-rinh-tô 15:55). Sự sống lại của Ðấng
Christ đã ban hiến một mẫu mực cho sự sống lại của cơ
thể: "Nhưng chúng ta là công dân trên trời; ấy là
từ nơi đó mà chúng ta trông đợi Cứu Chúa mình là
Ðức Chúa Jêsus Christ, Ngài sẽ biến hóa thân thể hèn mạt
chúng ta ra giống như thân thể vinh hiển Ngài" (Phi-líp
3:20-21). Và Giăng nói: "Hỡi kẻ rất yêu dấu,
chính lúc bấy giờ chúng ta la con cái Ðức Chúa Trời, còn
về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được
bày tỏ. Chúng ta biết rằng, khi Ngài hiện đến, chúng ta
sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật
vậy" (I Giăng 3:2). VI. Sự xưng tụng Ðấng Christ Sau khi sống lại, Ðấng
Christ còn ở lại thế gian bốn mươi ngày. Thỉnh thoảng
Ngài lại xuất hiện cùng các môn đồ. Rồi Ngài thăng
thiên và ngự bên phải Ðức Chúa Trời. Những câu chót trong sách
Tin Lành Lu-ca, đã diễn tả về sự Ngài ngự lên
trời: "Kế đó, Ngài đem môn đồ đi đến nơi xung
quanh làng Bê-tha-ni, giơ tay lên mà ban phước cho. Ðương
khi ban phước, Ngài lìa môn đồ mà được đem lên
trời" (Lu-ca 24:50-51). Trong chương đầu của sách
Công-vụ-các-sứ-đồ, Lu-ca nhắc lại chỗ đoạn sách Tin
Lành đã chấm dứt, và nói tiếp thêm về sự thăng thiên:
"Ngài phán bấy nhiêu lời rồi, thì được cất lên trong
lúc các người đó nhìn xem Ngài, có một đám mây tiếp
Ngài khuất đi, không thấy nữa" (Công-vụ 1:9). Nhiền đoạn khác của Kinh
Thánh cho chúng ta biết vài điều về những gì đã xảy ra
phía bên kia vừng mây: "Cũng vì đó nên Ðức Chúa
Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết
mọi danh, hầu cho nghe đến danh Ðức Chúa Jêsus, mọi đầu
gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều
qùi xuống, và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus-Christ là
Chúa, mà tôn vinh Ðức Chúa Trời, là Ðức Chúa Cha"
(Phi-líp 2:9-11). "Còn như Ðấng nầy,
đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ, rồi ngồi đời đời
bên hữu Ðức Chúa Trời" (Hê-bơ-rơ 10:12);
"Nhìn xem Ðức Chúa Jêsus, là cội rễ và cuối cùng của
đức tin, tức là Ðấng vì sự vui mừng đã đặt trước
mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sĩ nhục, và
hiện nay ngồi bên hữu ngai Ðức Chúa Trời" (Hê-bơ-rơ
12:2). Bên phải là chỗ ngự của vinh dự và quyền
năng. Ðiều nầy hợp với những lời Chúa Jêsus phán
cùng các môn đồ: "Hết cả quyền phép ở trên trời
và dưới đất đã giao cho ta" (Ma-thi-ơ 28:18). Ðối với môn đồ Ðấng
Christ, sự xưng tụng Ngài có nghĩa gì? 1) Ðấng biện hộ ở nơi Ðức Chúa Cha Có một Ðấng ngự bên
phải Ðức Chúa Trời bênh vự cho chúng ta: "Nếu có ai
phạm tội, thì chúng ta có Ðấng cầu thay ở nơi Ðức Chúa
Cha, là Ðức Chúa Jêsus Christ, tức là Ðấng công bình"
(I Giăng 2:1). "Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn
những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Ðức Chúa Trời, vì Ngài
hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy" (Hê-bơ-rơ 7:25). Tín đồ Cơ-đốc có hai
Ðấng cầu thay cho mình: Ðức Thánh Linh ở trong lòng và
Ðấng Christ ngự bên phải Ðức Chúa Trời. Phao lô nói
với chúng ta về hai Ðấng cầu thay trong chương tám sách
Rô-ma: "Ðức Thánh Linh lấy sự thở than không thể
nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta" (câu 26).
"Ðức Chúa Jêsus Christ là Ðấng đã chết, và cũng đã
sống lại nữa, Ngài đang ngự bên hữu Ðức Chúa Trời,
cầu nguyện thế cho chúng ta" (câu 34). Ðấng Christ có thể biện
hộ cho ta như thế nào? Ở tòa án thế gian, nhà biện
hộ, đứng thay mặt thân chủ, có thể bào chữa, "vô
tội"; hoặc "vì không biết luật
pháp" Nhưng Ðức Chúa Jêsus, nhà biện hộ của
chúng ta, không bào chữa về những điều đó. Tất cả
chúng ta đều phạm tội và đã phạm tội nhiều lần, và
chúng ta đã biết mà vẫn còn vi phạm luật pháp Ðức Chúa
Trời. Chỉ có một lời bào chữa mà Ðấng biện hộ cho
chúng ta có thể đưa ra, ấy là sự chết để cứu chuộc
của Ngài trên thập tự giá. 2) Một Cứu Chúa tại vì Nhân ngày lễ Ngũ tuần
trong bài thuyết giảng, Phi-e-rơ đã nói: "Vậy, cả nhà
Y-sơ-ra-ên khá biết chắc rằng Ðức Chúa Trời đã tôn
Jêsus nầy, mà các ngươi đã đóng đinh trên thập tự giá,
làm Chúa và Ðấng Christ" (Công-vụ 2:36). Có vài điều cần nhớ
về sự tại vị của Ðấng Christ. (1) Sự tại vị tuyệt đối: Sự tại vị nầy không có
giới hạn hay bị hạn chế, mà có tánh cách tối thượng và
oai quyền. Khi lời Ngài đã phán thì mọi cuộc tranh luận
phải chấm dứt. Ngài là đầu của Hội
Thánh. Trong tổ chức, trong hàng chức viên, các nghi lễ,
công tác và sứ mạng truyền giảng, Hội Thánh chịu sự
lãnh đạo của Chúa là Ðấng Christ. Mỗi tín đồ Cơ đốc chỉ
biết có Ðấng Christ là Chúa mà thôi. Chúa Jêsus đã
phán cùng các môn đồ rằng: "Cũng đừng chịu ai
gọi mình là chủ; vì các ngươi chỉ có một Chủ, là
Ðấng Christ" (Ma-thi-ơ 23:10). Và Ngài lại phán:
"Các ngươi gọi ta bằng Thầy Chúa; các ngươi nói
phải, vì ta thật vậy" (Giăng 13:13). (2) Sự tại vị trên toàn khắp vũ trụ Sự tại vị của Ðấng
Christ bao gồm toàn thể vũ trụ trên nhiều mặt. Tính
cách bao gồm toàn thể nầy, đạt tới và kiểm soát tất cả
mọi lãnh vực của cuộc sống. Người ta không thể nhận
chân sự tại vị của Ðấng Christ ở một phương diện nào
của đời sống mình, và phủ nhận nó ở phương diện
khác. Ngài là Chúa trong tất cả mọi lãnh vực.
Ngài là Chúa trong đời sống tôn giáo của chúng ta;
Ngài là Chúa trong đời sống gia đình ta; Ngài là Chuá
trong đời sống hoạt động của ta; Ngài là Chúa trong
đời sống xã hội của ta. Ngài là Chúa ngày thứ hai
cũng như Ngài là Chúa ngày Chúa nhật. Ngài là Chúa
ở trong nhà cũng như Ngài là Chúa ở Thánh đường.
Ngài là Chúa trong công việc làm ăn của ta cũng như Ngài
là Chúa ở trong tôn giáo. Ngài là Chúa tất cả thời
gian và bao giờ Ngài cũng là Chúa cả. Ngài là Chúa
ở khắp mọi nơi, và ở nơi đâu Ngài cũng là Chúa cả. Sự tại vị của Ngài có
tánh cách bao trùm mọi quốc gia và mọi dân tộc. Chúa
Jêsus, không có đối thủ ở bất cứ nơi nào trên quả
đất nầy. Các đạo giáo có các nhà lãnh đạo và
giáo sư của họ, nhưng Ðức Chúa Jêsus đứng biệt lập
trên tất cả. Ngài chẳng phải chỉ là Chúa của nhân
loại mà Ngài chính là Chúa duy nhất của nhân loại.
Sự tại vị của Ngài có tánh cách bao quát vì nó gồm toàn
thể vũ trụ. Phao lô đã tuyên bố rằng: "Nghe đến
danh Chúa Jêsus, mọi đâù gối trên trời, thảy đều qùi
xuống." Ngài là Chúa trên mặt đất, và Ngài là
Chúa trên trời. Ngài là Chúa của loài người, và
Ngài là Chúa các thiên sứ. Ngài là Chúa của sự
hằng sống và Ngài là Chúa của sự chết. Ngài là
Chúa ở khắp mọi nơi và của mọi loài. (3) Sự tại vị cuối cùng Ðấng Christ sẽ là Chúa
cho đến ngày tận cùng. Ngài là Chúa hôm nay và sẽ
là Chúa ngày mai. Trên thế gian thỉnh thoảng các vì vua
chúa bị lật đổ và được thay thế bằng những vị
khác. Chẳng bao giờ ai có thể thay thế Ðức Chúa Jêsus
được. "Ðức Chúa Jêsus Christ hôm qua, ngày nay, và
cho đến đời đời không hề thay đổi" (Hê-bơ-rơ 13:8). Tôi có đọc chuyện một
người, trên mặt đồng hồ của ông ta thay vì viết số, có
mấy chữ: "Ðấng Christ là Chúa." Khi người
ta hỏi về điều nầy, ông bèn trả lời: "Như thế
nhắc tôi nhớ Ðấng Christ là Chúa trong bất cứ thời gian
nào." 3) Một vị vua chinh phục Ê-sai khi tả về Ðấng
Mê-si sắp đến đã nói: " Người chẳng mòn mỏi,
chẳng ngã lòng, cho đến chừng nào lập xong sự công bình
trên đất; các cù lào sẽ trông đợi luật pháp
người" (Ê-sai 42:4). Và trong I Cô-rinh-tô 15:25,
chúng ta đọc: "Vì Ngài phải cầm quyền cho đến chừng
đặt những kẻ thù nghịch dưới chân mình." Suốt con
đường đi, có thể có những trường hợp dường như thất
bại, nhưng cuối cùng Chúa Jêsus sẽ thắng tất cả. Trong đoạn 19 của sách
Khải quyền, Giăng đã mô tả hình ảnh kỳ diệu mà ông
được mục kích. Ông thấy trời mở ra và có một
Ðấng cỡi ngựa bạch. Mắt Ngài như ngọn lửa, và
trên đầu Ngài có nhiều mão triều thiên. Ngài mặc áo
nhúng trong huyết và theo sau Ngài có những đạo binh trên
trời cỡi ngựa bạch và mặc vải gai trắng. Có lưỡi
gươm bén ở miệng Ngài ra. Trên áo và trên đùi Ngài
có đề: "VUA CỦA CÁC VUA, VÀ CHÚA CỦA CÁC
CHÚA." |